ứng đầy đủ cho hoạt động giáo dục. - Do thiếu văn bản pháp quy, thiếu sự chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống. 19 CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRUNG TÂM GDTX 3.1. NGUYÊN TẮC XÁC LẬP BIỆN PHÁP 3.2. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GDPL CHO BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI 3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp 3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 2. 2 Quan hệ giao tiếp của thiếu niên với bạn cùng tuổi. 3. Biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên. III. Phần tiểu kết 20 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 8840 | Lượt tải: 27 Biện pháp giáo dục lứa tuổi thiếu niên admin 15/04/2022 Giới thiệuTin tức- Sự kiệnChỉ đạo điều hànhTuyên truyền PB pháp luậtChiến lược, QH, KHThủ tục hành chính 2. Đặc điểm cơ thể. Tuổi đầu bạn teen là thời kỳ đã có được sự trưởng thành về phương diện thể lực, nhưng mà sự phân phát triển khung người còn nhát so với sự phát triển khung người của bạn lớn. Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ cải tiến và phát triển -Biết được nguyên nhân và biện pháp phòng chống bệnh còi xương ở lứa tuổi thiếu niên, giải thích được các hiện tượng trong thực tế.-Xây dựng sản phẩm tuyên truyền về phòng chống còi xương cho lứa tuổi thiếu niên. II.Nội dung và hình thức tổ chức. 1.Nội dung: Các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi thiếu niên gắn liền với công tác: A. Giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội B. Giáo dục của nhà trường dBGyM. Dưới đây là các thông tin và kiến thức về chủ đề biện pháp giáo dục lứa tuổi thiếu niên hay nhất do chính tay đội ngũ leading10 chúng tôi biên soạn và tổng hợp 1. 2. Giáo dục nhân cách trẻ vị thành niên- Gia đình đóng vai trò quan trọng 3. Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử và biện pháp tác động 4. Nên áp dụng các biện pháp giáo dục trẻ phù hợp tâm lý, lứa tuổi 5. Trẻ nổi loạn và những biện pháp ứng phó – Hệ thống trường quốc tế Việt Úc – VAS 6. TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH 7. Ba cách giúp trẻ vị thành niên chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai 8. SKKN chủ nhiệm “PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI – Tài liệu text 9. Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên – Tài liệu, ebook, giáo trình 10. Sự phát triển ở tuổi vị thành niên – Khoa nhi – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia 11. Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên – Luận văn, đồ án, luan van, do an 12. 10 mẹo nuôi dạy con tuổi vị thành niên từ 13 đến 18 tuổi 13. Tâm sinh lý giai đoạn tuổi thiếu niên 11-15 tuổi 14. Rối Loạn Hành Vi Ở Lứa Tuổi Thanh Thiếu Niên & Những Điều Cần Lưu Ý 15. Cần có biện pháp để ngăn ngừa sự gia tăng tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên 16. 16 lưu ý để thành công khi dạy con lứa tuổi THCS, THPT 17. Thủ tục đưa vào trường giáo dưỡng 2022 18. Bàn về chính sách, biện pháp phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên Tham khảo 1. Tác giả Ngày đăng 05/07/2019 0615 AM Đánh giá 3 ⭐ 26838 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm Khi trẻ dần đến lứa tuổi vị thành niên, vai trò của cha mẹ đang từng bước … trẻ ở tuổi vị thành niên, nhưng đồng thời vẫn sẽ có một số biện pháp giáo dục ……. read more 2. Giáo dục nhân cách trẻ vị thành niên- Gia đình đóng vai trò quan trọng Tác giả Ngày đăng 07/14/2020 0519 PM Đánh giá 4 ⭐ 46468 đánh giá Tóm tắt Đối với trẻ vị thành niên, việc giáo dục nhân cách cho các em là vô cùng quan trọng, bởi đây là lứa tuổi mới lớn, bắt đầu có nhận thứcban đầu về cuộc sống. Theo các nhà tâm lý học đặc tính chung… Khớp với kết quả tìm kiếm Đối với trẻ vị thành niên, việc giáo dục nhân cách cho các em là vô cùng quan trọng, bởi đây là lứa tuổi mới lớn, bắt đầu có nhận thứcban ……. read more 3. Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử và biện pháp tác động Tác giả Ngày đăng 06/08/2021 0157 AM Đánh giá 4 ⭐ 62406 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm Để công tác giáo dục cho thiếu niên Phật tử đạt được kết quả tốt, thiết nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của các em. Ở lứa tuổi thiếu niên, ……. read more 4. Nên áp dụng các biện pháp giáo dục trẻ phù hợp tâm lý, lứa tuổi Tác giả Ngày đăng 07/06/2021 0854 PM Đánh giá 5 ⭐ 18439 đánh giá Tóm tắt Để có cái nhìn khách quan hơn về phương pháp giáo dục trẻ, PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ tâm lý Bùi Thị Ngọc Linh, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh. Khớp với kết quả tìm kiếm Cùng Anh Ngữ A+ English xây dựng các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi này. Gắn liền với công tác giáo dục của nhà trường, ……. read more 5. Trẻ nổi loạn và những biện pháp ứng phó – Hệ thống trường quốc tế Việt Úc – VAS Tác giả Ngày đăng 08/09/2019 1103 AM Đánh giá 4 ⭐ 80908 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm … hơn về phương pháp giáo dục trẻ, PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ tâm lý Bùi Thị Ngọc Linh, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh….. read more 6. TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH Tác giả Ngày đăng 06/16/2020 0924 AM Đánh giá 4 ⭐ 21329 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm Phương pháp dạy con ở tuổi dậy thì đơn giản và hiệu quả lắng nghe … khi con gặp khó khăn, kèm theo giáo dục con là về tình yêu, tình dục, ……. read more 7. Ba cách giúp trẻ vị thành niên chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai Tác giả Ngày đăng 04/08/2020 0540 AM Đánh giá 5 ⭐ 28963 đánh giá Tóm tắt Khi trẻ đến tuổi thanh thiếu niên, các em có thể có cách thực hiện công việc riêng. Tìm hiểu một số cách để hiểu con hơn. Hãy đọc ngay! Khớp với kết quả tìm kiếm Những vấn đề ấy có thể là hậu quả của khủng hoảng tuổi thiếu niên, … Do phương pháp giáo dục sai lầm của cha mẹ Hoặc cha mẹ quá hà khắc ……. read more 8. SKKN chủ nhiệm “PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI – Tài liệu text Tác giả Ngày đăng 04/09/2019 1225 PM Đánh giá 3 ⭐ 39443 đánh giá Tóm tắt … hiểu mặt đúng, mặt sai vấn đề 3/ Khuyên răn nhẹ nhàng 4/ Giao nhiệm vụ cụ thể Ví dụ 1 với lỗi học sinh vi phạm hút thuốc Lớp 6B năm chủ nhiệm có em Trần Trung Hiếu hút thuốc Sau tìm hiểu nguyên… cách phối hợp với giáo viên môn thường xuyên nhắc nhở em Khớp với kết quả tìm kiếm – Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện….. read more 9. Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên – Tài liệu, ebook, giáo trình Tác giả Ngày đăng 06/09/2021 0513 PM Đánh giá 3 ⭐ 95548 đánh giá Tóm tắt MỤC LỤC I Phần mở đầu II Phần nội dung 1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên 2 Các quan hệ giao tiếp của thiếu Khớp với kết quả tìm kiếm Tại sao thanh thiếu niên lại nổi loạn? Chuyên gia giải thích rằng trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học có thể hiểu được suy nghĩ của cha mẹ, ……. read more 10. Sự phát triển ở tuổi vị thành niên – Khoa nhi – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia Tác giả Ngày đăng 09/07/2019 0524 AM Đánh giá 4 ⭐ 70500 đánh giá Tóm tắt Sự phát triển ở tuổi vị thành niên và Khoa nhi – Tìm hiểu về Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia y tế. Khớp với kết quả tìm kiếm “Giáo dục học sinh và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 6”. … Hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh,…. read more 11. Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên – Luận văn, đồ án, luan van, do an Tác giả Ngày đăng 01/05/2020 0249 AM Đánh giá 5 ⭐ 37248 đánh giá Tóm tắt Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên – Trong suốt cuộc đời mình, từ khi sinh ra cho tới k… Khớp với kết quả tìm kiếm Khi trẻ dần đến lứa tuổi vị thành niên, vai trò của cha mẹ đang từng bước … trẻ ở tuổi vị thành niên, nhưng đồng thời vẫn sẽ có một số biện pháp giáo dục ……. read more 12. 10 mẹo nuôi dạy con tuổi vị thành niên từ 13 đến 18 tuổi Tác giả Ngày đăng 03/23/2021 0909 PM Đánh giá 5 ⭐ 59309 đánh giá Tóm tắt Nuôi dạy và chăm sóc trẻ lứa tuổi vị thành niên từ 13 đến 18 tuổi có những điểm gì cần lưu ý? Cùng tìm hiểu 10 mẹo nuôi dạy con ở lứa tuổi này ngay nào! Khớp với kết quả tìm kiếm Đối với trẻ vị thành niên, việc giáo dục nhân cách cho các em là vô cùng quan trọng, bởi đây là lứa tuổi mới lớn, bắt đầu có nhận thứcban ……. read more 13. Tâm sinh lý giai đoạn tuổi thiếu niên 11-15 tuổi Tác giả Ngày đăng 05/15/2021 0344 AM Đánh giá 4 ⭐ 65138 đánh giá Tóm tắt Tuổi thiếu niên được xác định trong khoảng từ 11 – 15 tuổi. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách. Giai đoạn tuổi thiếu niên thường được gắn với những cách gọi như… Khớp với kết quả tìm kiếm Để công tác giáo dục cho thiếu niên Phật tử đạt được kết quả tốt, thiết nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của các em. Ở lứa tuổi thiếu niên, ……. read more 14. Rối Loạn Hành Vi Ở Lứa Tuổi Thanh Thiếu Niên & Những Điều Cần Lưu Ý Tác giả Ngày đăng 07/25/2019 1153 PM Đánh giá 3 ⭐ 77315 đánh giá Tóm tắt Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên là tình trạng trẻ từ 13-18 tuổi có các hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người khác như gây hấn, lừa dối Khớp với kết quả tìm kiếm Cùng Anh Ngữ A+ English xây dựng các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi này. Gắn liền với công tác giáo dục của nhà trường, ……. read more 15. Cần có biện pháp để ngăn ngừa sự gia tăng tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên Tác giả Ngày đăng 06/04/2021 0745 AM Đánh giá 3 ⭐ 35740 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm … hơn về phương pháp giáo dục trẻ, PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ tâm lý Bùi Thị Ngọc Linh, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh….. read more 16. 16 lưu ý để thành công khi dạy con lứa tuổi THCS, THPT Tác giả Ngày đăng 05/06/2019 0348 PM Đánh giá 5 ⭐ 78320 đánh giá Tóm tắt GD&TĐ – Nhằm cung cấp cho các bậc cha mẹ một kế hoạch dạy con dài hơi, theo lộ trình cụ thể và chi tiết, tiếp nối nội dung chia sẻ qua bài “11 nguyên tắc vàng dạy con lứa tuổi mầm non, tiểu học”, TS. Vũ Thu Hương – Giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội tiếp tục gửi đến các phụ huynh chiến lược dạy con tuổi teen – giai đoạn THCS và THPT. Khớp với kết quả tìm kiếm Phương pháp dạy con ở tuổi dậy thì đơn giản và hiệu quả lắng nghe … khi con gặp khó khăn, kèm theo giáo dục con là về tình yêu, tình dục, ……. read more 17. Thủ tục đưa vào trường giáo dưỡng 2022 Tác giả Ngày đăng 08/02/2019 0505 PM Đánh giá 4 ⭐ 32246 đánh giá Tóm tắt Bên cạnh những biện pháp xử phạt như phạt tù… thì pháp luật còn quy định đưa vào trường giáo dưỡng Vậy thủ tục đưa vào trường giáo dưỡng như thế nào? Khớp với kết quả tìm kiếm Những vấn đề ấy có thể là hậu quả của khủng hoảng tuổi thiếu niên, … Do phương pháp giáo dục sai lầm của cha mẹ Hoặc cha mẹ quá hà khắc ……. read more 18. Bàn về chính sách, biện pháp phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên Tác giả Ngày đăng 06/18/2021 1204 PM Đánh giá 3 ⭐ 73920 đánh giá Tóm tắt Khớp với kết quả tìm kiếm – Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện….. read more ” Tham khảo BÀI MỞ ĐẦU 1. Nội dung bài giảng Sinh lý trẻ lứa tuổi Tiểu học là môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức về cấu tạo và những đặc điểm sinh lý của trẻ em về các hệ cơ quan bên trong cơ thể trẻ em; những biện pháp giữ gìn vệ sinh các hệ cơ quan, đồng thời rèn luyện cho sinh viên có những kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học để học tốt các môn học tâm lý học, giáo dục học, Tư nhiên – Xã hội và phương pháp dạy học Tự nhiên – Xã hội… Môn học còn trang bị cho sinh viên các phương pháp nghiên cứu cơ bản của sinh lý học trẻ em. 2. Mục tiêu bài giảng Học xong học phần này sinh viên có được * Về kiến thức Mô tả đươc cấu tạo và trình bày được đặc điểm sinh lý trẻ em hệ thần kinh và hoạt động thần kinh cấp cao; hoạt động của các cơ quan phân tích, các tuyến nội tiết, hệ sinh dục, hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết và trao đổi chất. * Về kỹ năng Vận dụng những kiến thức về sinh lý trẻ em vào việc tìm hiểu và ứng dụng các đặc điểm tâm lý của trẻ, vào việc tổ chức dạy học và phương pháp giáo dục, vào việc dạy học bộ môn Tự nhiên – Xã hội và Khoa học ở bậc Tiểu học. * Về thái độ Coi trọng học phần này vì nó là cơ sở để học các môn học khác Tâm lý học, Giáo dục học, Tự nhiên – Xã hội, có thái đô khuyến khích tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ một cách hợp lý. 1 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ SINH LÍ HỌC TRẺ EM 2 TIẾT Mục tiêu Sinh viên hiểu đươc các khái niệm quá trình đồng hóa, dị hóa; sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận; sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể và nắm bắt đươc các qui luật tăng trưởng và phát triển ở trẻ em. Vận dụng những kiến thức trên vào việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Nghiên cứu khái niệm tăng trưởng, phát triển và các quy luật của chúng Thông tin Sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể trẻ em Cơ thể trẻ em là một thể thống nhất Cơ thể trẻ em không phải là một phép cộng của các cơ quan hay tế bào riêng lẻ. Mọi cơ quan, mô và tế bào đều được liên kết với nhau thành một khối thống nhất trong cơ thể. Sự thống nhất ấy được thể hiện ở những mặt sau - Sự thống nhất giữa đồng hoá và dị hoá trong cơ thể luôn luôn tiến hành hai quá trình liên hệ mật thiết với nhau đồng hoá và dị hoá. Quá trình đồng hoá là quá trình xây dựng các chất phức tạp mới từ các chất lấy ở bên ngoài vào. Quá trình dị hoá là quá trình phân huỷ các chất phức tạp của nguyên sinh chất thành các chất đơn giản. Quá trình dị hoá tạo ra năng lượng. Năng lượng này một mặt được dùng vào quá trình đồng hoá, mặt khác dùng để thực hiện các quá trình sống trong các bộ phận của cơ thể. Khi cơ thể còn trẻ, đồng hoá mạnh hơn dị hoá. Khi cơ thể đã già, dị hoá lại mạnh hơn đồng hoá. 2 Sự sống chỉ giữ được nếu môi trường bên ngoài luôn luôn cung cấp cho cơ thể oxi và thức ăn và nhận của cơ thể những sản phẩm phân huỷ. Đó là quá trình trao đổi chất của cơ thể và môi trường. - Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận chính sự trao đổi chất quyết định hoạt động và cấu tạo hình thái cơ thể nói chung, và của từng bộ phận nói riêng. Chức phận và cấu tạo của cơ thể là kết quả của sự phát triển cá thể và chủng loại của cơ thể. Giữa chức phận và hình thái cấu tạo có mối liên hệ khăng khít và phụ thuộc lẫn nhau. Trong hai mặt đó, chức phận giữ vai trò quyết định, vì chức phận trực tiếp liên hệ với trao đổi chất. Chẳng hạn, lao động và ngôn ngữ đã quyết định cấu tạo của con người khác với khỉ hình người. Sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể được diễn ra theo 3 hướng Một bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác. Ví dụ khi ta lao động, cơ làm việc, tim đập nhanh hơn, nhịp thở gấp hơn. Sau khi lao động, ta ăn ngon hơn, mồ hôi ra nhiều hơn, nước tiểu cũng thay đổi thành phần. Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến một bộ phận. Ví dụ hiện tượng đói là ảnh hưởng của toàn bộ cơ thể đến cơ quan tiêu hoá. Trong từng cơ quan có sự phối hợp giữa các thành phần cấu tạo với nhau. Ví dụ tay co là do sự phối hợp giữa hai cơ nhị đầu và tam đầu; đồng tử co dãn được là do sự phối hợp của cơ phóng xạ và cơ đồng tâm. - Sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường khi môi trường thay đổi thì cơ thể cũng phải có những thay đổi bên trong, những phản ứng cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường. Nếu không, cơ thể sẽ không tồn tại được. Khả năng này của cơ thể được gọi là tính thích nghi, một đặc tính chung của sinh học. Ví dụ khi trời lạnh, ta “nổi da gà”. Đó chính là một sự thích nghi của cơ thể đối với thời tiết các cơ dựng lông co lại để giữ cho nhiệt trong cơ thể đỡ thoát ra ngoài. Đó là loại thích nghi nhanh. Những động vật kiếm ăn ban đêm thì có tế bào gậy của võng mạc phát triển, còn tế 3 bào nón kém phát triển. Lượng hồng cầu của người sống ở các vùng rẻo cao nhiều hơn so với người ở đồng bằng vì ở trên độ cao thì không khí ít oxi hơn, khả năng kết hợp oxi của hồng cầu kém hơn. Loại thích nghi này là loại thích nghi chậm. Tính thích nghi ở con người mang tính chủ động, không như ở động vật khác Ta chống rét bằng áo ấm, lò sưởi, chứ không thụ động bằng cách “nổi da gà”. Các quy luật chung của sự tăng trưởng và phát triển Sự phát triển của con người là một quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cả cuộc đời. Ở mỗi một giai đoạn phát triển cơ thể, cơ thể đứa trẻ là một chỉnh thể hài hoà với những đặc điểm vốn có đối với giai đoạn tuổi đó. Mỗi một giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, những cái hiện có của giai đoạn này và những mầm mống của giai đoạn sau. Như vậy, mỗi một lứa tuổi là một hệ thống cơ động độc đáo, ở đó vết tích của giai đoạn trước dần dần bị xoá bỏ, cái hiện tại và tương lai được phát triển, rồi cái hiện tại lại trở thành cái quá khứ và mầm mống của cái tương lai lại trở thành cái hiện tại, rồi những phẩm chất mới lại được sinh, những mầm mống của cái tương lai. Giáo dục phải xác định được cái hiện có và dựa trên mầm mống của cái tương lai mà tổ chức việc dạy học và giáo dục cho thế hệ trẻ. Sự phát triển trước hết được thể hiện ở sự tăng trưởng hay lớn lên của cơ thể, của các cơ quan riêng lẻ và ở sự tăng cường các chức năng của chúng. Sự tăng trưởng của các cơ quan khác nhau diễn ra không đồng đều và không đồng thời, vì vậy mà tỉ lệ cơ thể bị thay đổi. Nhịp độ tăng trưởng của cơ thể cũng không đồng đều. Chẳng hạn, ở tuổi dậy thì cơ thể lớn nhanh, nhưng sau đó thì chậm lại. Đặc trưng của sự tăng trưởng là sự thay đổi về số lượng những dấu hiệu vốn có của cơ thể, về sự tăng lên hay giảm đi những dấu hiệu đó. 4 Đặc trưng của sự phát triển là những biến đổi về chất của cơ thể, là sự xuất hiện những dấu hiệu và thuộc tính được hình thành ngay trong quá trình tăng trưởng. Quá trình phát triển này diễn ra một cách từ từ, liên tục nhưng đồng thời cũng có những bước nhảy vọt, những “ngắt quãng của sự liên tục”. Những giai đoạn đầu tiên của quá trình này diễn ra khi còn là bào thai trong bụng mẹ. Quá trình phát triển của cơ thể đi từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa phân hoá đến phân hoá. Nó phân chia các bộ phận, các cơ quan, các yếu tố và hợp nhất chúng lại thành một toàn bộ mới, một cơ cấu mới. Sự hình thành những cơ cấu mới là sự xuất hiện những phẩm chất mới của con người đang phát triển, nó diễn ra ở cả mặt hình thái lẫn cả mặt chức năng, sinh hoá, sinh lí và tâm lí. Sự phát triển cơ thể con người được biểu hiện qua các chỉ số đo người chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chiều rộng của vai...Trong đó, chiều cao và cân nặng là hai chỉ số cơ bản. Chiều cao tăng lên rõ rệt trong thời kì bú mẹ và trong thời kì đầu của tuổi nhà trẻ. Sau đó nó lại chậm lại ít nhiều. Lúc 6 – 7 tuổi, chiều cao lại tăng nhanh và đạt tới 7 – 10 cm trong 1 năm. Đó là thời kì vươn dài người ra. Sau đó, lúc 8 – 10 tuổi thì sự tăng trưởng bị chậm lại, hằng năm chỉ đạt 3 – 5 cm thời kì tròn người, đến lúc bắt đầu dậy thì 11 – 15 tuổi lại được tiếp tục tăng nhanh, từ 5 – 8 cm trong 1 năm thời kì thứ hai của sự vươn dài người ra. Cân nặng giữa chiều cao và cân nặng không có sự phụ thuộc theo một tỉ lệ nghiêm ngặt nào, nhưng thông thường trong cùng một lứa tuổi thì những trẻ cao hơn có cân nặng lớn hơn. Nhịp độ tăng trọng lớn nhất ở năm đầu của đời sống. Tới cuối năm thứ nhất thì cân nặng được tăng lên 3 lần. Sau đó cân nặng tăng thêm trung bình mỗi năm 2 kg. Các giai đoạn phát triển sinh lí theo lứa tuổi Có nhiều cách phân loại các thời kì giai đoạn phát triển khác nhau của cơ thể. Cách phân loại của Tua, đã được sử dụng rộng rãi ở nước ta, như sau 5 Thời kì phát triển trong bụng mẹ 270 – 280 ngày, gồm - Giai đoạn phôi thai 3 tháng đầu; - Giai đoạn nhau thai nhi từ tháng 4 đến khi sinh. Thời kì sơ sinh từ lúc lọt lòng đến 1 tháng. Thời kì bú mẹ nhũ nhi kéo dài đến hết năm đầu. Thời kì răng sữa 12 đến 60 tháng, gồm 2 giai đoạn nhỏ - Giai đoạn nhà trẻ 1 – 3 tuổi; - Giai đoạn mẫu giáo 4 – 6 tuổi. Thời kì thiếu niên 7 – 15 tuổi, gồm 2 giai đoạn nhỏ - Giai đoạn học sinh nhỏ 7 – 12 tuổi; - Giai đoạn học sinh lớn 12 – 15 tuổi. Thời kì dậy thì tuổi học sinh Trung học Phổ thông. Trẻ càng nhỏ thì điều kiện sống ảnh hưởng càng lớn đến sự phát triển thể chất của trẻ. Mối quan hệ giữa sinh lí và tâm lí trong hoạt động của cơ thể Sự phát triển tâm lí của trẻ em diễn ra trên cơ sở phát triển giải phẫu – sinh lí của nó, đặc biệt là sự phát triển của hệ thần kinh và các giác quan. Người ta thường nói “một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể cường tráng” là vì vậy. Ví dụ các em bé bị tật não nhỏ thì thường bị thiểu năng trí tuệ chậm phát triển trí tuệ; các em bị thiếu bán cầu đại não thì không có khả năng học nói, học đi và các vận động có phối hợp khác. Sự kém phát triển và chức năng suy yếu của tuyến giáp trạng dẫn đến sự trì trệ của trí tuệ. ảnh hưởng thuận lợi của các biến đổi sinh lí đến khả năng làm việc trí óc được thể hiện sau những động tác thể dục giữa giờ. Tất cả những ví dụ trên đã nói lên ảnh hưởng của sự phát triển cơ thể đến sự phát triển tâm lí của trẻ. 6 Mặt khác, bản thân sự phát triển tâm lí cũng lại có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển cơ thể của trẻ. Chẳng hạn, sự phát triển của hoạt động ngôn ngữ đã làm phát triển cái tai âm vị của trẻ; những luyện tập có động cơ, có mục đích có thể làm tăng tính nhạy cảm của các cơ quan phân tích, hoặc phục hồi được các chức năng đã bị phá huỷ của cơ thể. Trong mối quan hệ qua lại giữa sự phát triển cơ thể và sự phát triển tâm lí của đứa trẻ thì sự phát triển cơ thể là tiền đề cho sự phát triển tâm lí. Nhiệm vụ và đánh giá Nhiệm vụ Nhiệm vụ 1 đọc các thông tin và tài liệu tham khảo trên. Nhiệm vụ 2 thảo luận theo nhóm các câu hỏi Thế nào là tăng trưởng? Cho ví dụ. Thế nào là phát triển? Cho ví dụ. Chúng giống và khác nhau như thế nào? Nhiệm vụ 3 thảo luận câu hỏi “có những quy luật chung nào của sự tăng trưởng và phát triển? Cho ví dụ minh hoạ”. Đánh giá Câu hỏi 1 nêu các biểu hiện của sự tăng trưởng. Câu hỏi 2 nêu các biểu hiện của sự phát triển. Câu hỏi 3 có những quy luật chung nào của sự tăng trưởng và phát triển. Phân tích hình vẽ để rút ra quy luật về sự tăng trưởng và phát triển Thông tin Hình và 7 Hình Sự biến đổi tỉ lệ của thân thể theo tuổi Hình Độ tăng thêm về chiều dài của thân thể ở em trai và em gái Hình Độ tăng thêm về cân nặng của thân thể ở em trai và em gái Nhiệm vụ và đánh giá Nhiệm vụ Nhiệm vụ 1 xem kĩ 3 hình và Nhiệm vụ 2 phân tích nội dung, ý nghĩa của 3 hình đó. Nhiệm vụ 3 rút ra kết luận về quy luật tăng trưởng và phát triển về tỉ lệ giữa các phần thân thể, về chiều cao và cân nặng của trẻ em. 8 Đánh giá Câu hỏi 1 dựa vào các quy luật tăng trưởng và phát triển, hãy giải thích tại sao trẻ em cuối bậc Tiểu học hay “lóng ngóng”, “đụng đâu vỡ đấy”? Câu hỏi 2 cần có thái độ xử sự ra sao trước những hành vi, cử chỉ vụng về đó của trẻ? Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu sinh lí học trẻ em Thông tin Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp của Sinh lí học trẻ em + Đối tượng nghiên cứu của Sinh lí học trẻ em Sinh lí học trẻ em là một ngành của Sinh lí học người và động vật, có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật hình thành và phát triển của các chức năng sinh lí của cơ thể trẻ em. Trọng tâm của giáo trình này là những vấn đề có ý nghĩa nhất đối với hoạt động thực tiễn của người giáo viên và nhà giáo dục nói chung. + Nhiệm vụ nghiên cứu của Sinh lí học trẻ em Sinh lí học trẻ em có những nhiệm vụ cơ bản sau đây Cung cấp những kiến thức về các đặc điểm giải phẫu và sinh lí của trẻ em và thiếu niên cần thiết cho công tác của các nhà giáo dục. Hình thành sự hiểu biết biện chứng đúng đắn về những quy luật sinh học cơ bản của sự phát triển cơ thể trẻ em và thiếu niên. Làm quen với những cơ sở phản xạ có điều kiện của các quá trình dạy học và giáo dục trẻ em và thiếu niên. Làm quen với các cơ chế sinh lí của các quá trình tâm lí phức tạp như cảm giác, tri giác, chú ý, trí nhớ, tư duy những cơ sở sinh lí của ngôn ngữ và các phản ứng xúc cảm. 9 Phát triển ở người giáo viên tương lai kĩ năng sử dụng các kiến thức về đặc điểm hình thái – chức năng của cơ thể trẻ em và thiếu niên và về sinh lí hoạt động thần kinh cấp cao TKCC của chúng khi tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục, khi phân tích các quá trình và hiện tượng sư phạm. + Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của Sinh lí học trẻ em Có 3 phương pháp cơ bản được dùng trong các nghiên cứu về Sinh lí học lứa tuổi quan sát, thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. * Phương pháp quan sát là phương pháp mà nhờ nó nhà nghiên cứu tri giác và ghi chép được một cách có mục đích, có kế hoạch những biểu hiện đa dạng của cơ thể con người trẻ em và sự phát triển của nó, cùng với những điều kiện diễn biến của chúng. - Ưu điểm của phương pháp đơn giản, không tốn kém, lại có thể thu thập được những tài liệu thực tế, phong phú, trực tiếp từ đời sống và hoạt động của người mà ta nghiên cứu. - Nhược điểm của phương pháp người nghiên cứu không thể trực tiếp can thiệp vào diễn biến tự nhiên của hiện tượng mà mình nghiên cứu, vì vậy không thể làm thay đổi, làm tăng nhanh hay chậm lại hoặc lập lại một số lần cần thiết đối với nó được. Pavlov đã viết “quan sát thu thập những cái mà thiên nhiên phô bày ra, còn thí nghiệm lấy của thiên nhiên cái ta muốn”. * Phương pháp thực nghiệm là phương pháp mà nhà nghiên cứu có thể chủ động gây nên hiện tượng mà mình cần nghiên cứu, sau khi đã tạo ra những điều kiện cần thiết; đồng thời có thể chủ động loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên, chủ động thay đổi, làm nhanh lên hay chậm lại hoặc lặp lại diễn biến của hiện tượng đó nhiều lần. Có hai loại thực nghiệm tự nhiên và trong phòng thí nghiệm. 10 - Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong điều kiện tự nhiên, quen thuộc với người được nghiên cứu như trong nhà trẻ, trong lớp học và người được nghiên cứu không biết rằng mình đang bị thực nghiệm. - Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành trong những phòng thí nghiệm đặc biệt, có trang bị những phương tiện kĩ thuật cần thiết. Nó cung cấp cho chúng ta những số liệu chính xác, tinh vi. Song nó cũng có nhược điểm là người được nghiên cứu luôn luôn biết mình đang bị thực nghiệm, điều này có thể gây nên ở họ một sự căng thẳng thần kinh không cần thiết; mặt khác, bản thân các điều kiện thực nghiệm là không bình thường, là nhân tạo. Tất cả các phương pháp nghiên cứu của Sinh lí học trẻ em được sử dụng đều gắn với cái gọi là phương pháp “cắt ngang” và “bổ dọc”. Phương pháp “cắt ngang” cần thiết cho nhà nghiên cứu trong việc xây dựng các “tiêu chuẩn theo lứa tuổi” đối với các chức năng này khác của trẻ em và thiếu niên. Điều này liên quan đến việc nghiên cứu các nhóm lớn những nghiệm thể thuộc lứa tuổi và giới tính khác nhau và đến việc xác lập mức độ phát triển chức năng điển hình nhất, nghĩa là trung bình, đối với mỗi nhóm ví dụ, xác định tần số nhịp đập của tim ở em trai và em gái thuộc các nhóm tuổi khác nhau. Phương pháp “bổ dọc”, khắc phục thiếu sót của phương pháp “cắt ngang” không chẩn đoán và dự báo được sự phát triển cá thể của các chức năng nó thực hiện việc nghiên cứu trên cùng những nghiệm thể nhất định trong quá trình phát triển cá thể của chúng. Ý nghĩa của Sinh lí học trẻ em Môn Sinh lí học trẻ em có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn và là một trong những thành tố cần thiết và quan trọng nhất của học vấn sư phạm. Nhiệm vụ và đánh giá Nhiệm vụ 11 Nhiệm vụ 1 đọc kĩ các thông tin trên. Nhiệm vụ 2 nêu tên các phương pháp cơ bản của Sinh lí học trẻ em. Phân tích ưu, khuyết điểm của mỗi phương pháp và điền vào bảng sau Các phương pháp Ưu điểm Nhược điểm 1. .................................... ................................ ........................... 2. .................................... ................................ ........................... 3. .................................... ................................ ........................... Nhiệm vụ 3 từ sự phân tích trên nhiệm vụ 2, hãy rút ra kết luận cần thiết về việc sử dụng các phương pháp Sinh lí học lứa tuổi. Đánh giá Câu hỏi 1 hãy bình luận câu nói của I. P. Pavlov đối với thanh niên “sự kiện là không khí của nhà khoa học. Loài chim dù có đôi cánh khoẻ cũng không thể bay cao nếu không có điểm tựa là không khí. Mọi lí thuyết nếu thiếu sự kiện sẽ giống những bong bóng xà phòng, hào nhoáng nhưng trống rỗng”. Câu hỏi 2 trong những trường hợp nào thì dùng phương pháp “cắt ngang” hay “bổ dọc”? 12 Chương 2. SINH LÍ HỆ THẦN KINH VÀ CÁC CƠ QUAN PHÂN TÍCH CỦA TRẺ EM 10 TIẾT Mục tiêu Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và sự phát triển hệ thần kinh của con người; hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ em tiểu học; nêu và giải thích được các quy luật cơ bản của hoạt động thần kinh cấp cao. Vận dụng những kiến thức trên vào việc giáo dục những đứa trẻ có những loại hình thần kinh khác nhau một cách linh hoạt; tiếp thu tốt học phần tâm lý học đại cương, giáo dục học. Tìm hiểu chung về các cơ quan phân tích thị giác, thích giác, khứu giác. Vận dụng những kiến thức trên để dạy các bài về phòng bệnh ở môn Tự nhiên – Xã hội và Khoa học. Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và sự phát triển của hệ thần kinh ở con người Thông tin Cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh người Hệ thần kinh của người gồm 2 phần trung ương và ngoại biên xem hình Hệ thần kinh trung ương gồm não bộ và tuỷ sống. Hệ thần kinh ngoại biên gồm các cơ quan thụ cảm và các dây thần kinh. Dây thần kinh hướng tâm gồm các sợi thần kinh dẫn truyền xung động từ cơ quan thụ cảm về trung ương. Dây thần kinh li tâm gồm các sợi dẫn truyền xung động từ trung ương đến các cơ quan trả lời kích thích. Dây thần kinh pha gồm cả hai loại sợi li tâm và hướng tâm. Các sợi thần kinh cảm giác liên hệ với các cơ quan thụ cảm. Hệ thần kinh được cấu tạo từ những đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản là các tế bào thần kinh hay nơron. Nhờ khả năng tiếp nhận, xử lí và chuyển giao thông tin vô cùng phức tạp của nơron mà cơ thể có được những phản ứng thích hợp với các kích thích tác động vào cơ thể. 13 Não bộ gồm các phần hành tuỷ, tiểu não, não giữa, não trung gian và bán cầu đại não. Bán cầu đại não là bộ phận phát triển nhất, chiếm 80% khối lượng của não bộ xem hình Bán cầu đại não gồm hai nửa phải và trái. Bề mặt bán cầu đại não có nhiều nếp nhăn, chia bán cầu thành các thuỳ và hồi não. Mỗi bán cầu có 3 nếp nhăn lớn rãnh Sylvius, rãnh Rolando và rãnh thẳng góc. Ba rãnh này chia bán cầu não thành 4 thuỳ trán, đỉnh, chẩm và thái dương. Hình Hệ thần kinh 1. Não bộ; 2. Tủy sống; 3. Hệ thần kinh ngoại biên 14 Cấu tạo bên trong của bán cầu đại não gồm có chất trắng và chất xám. Chất trắng là các sợi thần kinh gồm 3 loại sợi liên hợp, sợi liên bán cầu và sợi liên lạc. Chất xám gồm các nhân nơron nằm ở bên trong bán cầu nhân dưới vỏ và vỏ não. Vỏ não là bộ phận phát triển muộn hơn các phần khác nên có cấu tạo và chức năng phức tạp hơn; nơi đây diễn ra hoạt động thần kinh cấp cao, hoạt động tâm lí của con người. Trên vỏ não người có các trung khu ngôn ngữ trung khu vận động nói, trung khu vận động viết, trung khu hiểu tiếng nói, trung khu hiểu chữ viết. Các trung khu này không có ở vỏ não của động vật. Hình Não bộ cắt dọc theo chiều trước sau Tuỷ sống là phần cổ xưa nhất của hệ thần kinh ở động vật có xương sống, có chức phận bảo đảm những mối liên hệ đơn giản nhất của cơ thể với thế giới bên ngoài. Tuỷ sống của người là một khối hình trụ dài, có màng bao bọc nằm trong cột sống. Nếu cắt ngang tuỷ sống, ta sẽ phân biệt rất rõ chất xám và chất trắng. Chất xám có hình con bướm đang mở cánh, hay giống hình chữ H nằm ở giữa tuỷ sống, nó có sừng trước và sừng sau. Sừng trước là nơi xuất phát của rễ vận động, được tạo nên bởi trục của nhiều tế bào thần kinh. Sừng sau là nơi đi vào của trục các tế bào cảm giác, những tế bào này nằm ở trong các hạch gian đốt sống của rễ sau. Chất trắng bao quanh chất xám và được tạo nên bởi vô số những bó sợi thần kinh chạy dọc theo chiều cột sống; các bó này tạo thành cột trước, cột bên và cột sau của não. 15 Từ tuỷ sống phát đi 31 đôi dây thần kinh tuỷ. Mỗi dây thần kinh tuỷ là do các sợi trục liên quan đến rễ trước và rễ sau nhập vào nhau mà thành. Phần tuỷ sống ứng với mỗi đôi dây thần kinh tuỷ gọi là đốt tuỷ. Mỗi một dây thần kinh xuất phát từ tuỷ sống gồm các sợi dây cảm giác và sợi dây vận động, chúng đi đến các cơ quan khác nhau cơ, da, tuyến…. Tuỷ sống là một trung khu phản xạ quan trọng, bảo đảm cho các cử động máy móc, trả lời các kích thích muôn vẻ. Vai trò của hệ thần kinh người Nhờ có hệ thần kinh nói chung và bộ phận trung ương nói riêng – não bộ và tuỷ sống – mà cơ thể tiếp nhận được tất cả mọi biến đổi xảy ra trong môi trường bên trong và bên ngoài, và phản ứng lại một cách tích cực đối với những biến đổi đó, làm thay đổi quan hệ của mình đối với chúng. Hệ thần kinh bảo đảm hoạt động thống nhất của các mô và cơ quan với nhau, điều chỉnh sự hoạt động của chúng làm cho hoạt động của các cơ quan thích nghi với những điều kiện luôn thay đổi của môi trường bên ngoài trong từng thời điểm riêng lẻ cũng như trong suốt cuộc đời của cơ thể. Nhờ có phần cao cấp của hệ thần kinh – bán cầu đại não và đặc biệt là vỏ não – mà con người có tư duy và tâm lí. Vỏ não là cơ sở vật chất của toàn bộ hoạt động tâm lí của con người. Hệ thần kinh chính là cơ quan điều khiển, điều hoà và phối hợp các hoạt động của cơ thể như là một khối thống nhất. Sự phát triển của hệ thần kinh ở trẻ em tiểu học Cho tới lúc ra đời, não bộ của đứa trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù có cấu tạo và hình thái không khác với não của người lớn là mấy. Nó có kích thước nhỏ hơn và trọng lượng khoảng 370 – 392 g. Trọng lượng của não tăng lên mạnh mẽ trong 9 năm đầu tiên. Tới tháng thứ 6, trọng lượng của não đã tăng gấp đôi; tới 3 tuổi – tăng gấp ba; lúc 3 tuổi thì trung bình là 1300 g – chỉ kém não người lớn có 100g mà thôi! ở 16 tuổi dậy thì, trọng lượng não hầu như không thay đổi. Nhưng sự thật thì có những biến đổi về tế bào học và về chức năng rất tinh vi trong tất cả các giai đoạn phát triển, bao gồm cả tuổi dậy thì. Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh mẽ, tăng lên theo tuổi và được tiếp tục đến 14 – 15 tuổi, do đó cấu tạo tế bào của vỏ não của trẻ em 7 tuổi về cơ bản giống với người lớn. Sự myelin hóa sợi thần kinh là một giai đoạn phát triển quan trọng của não bộ, làm cho hưng phấn được truyền đi một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh, do đó hưng phấn đi đến vỏ não một cách chính xác, có định khu, làm cho hoạt động của trẻ hoàn thiện hơn. Gần tới 2 tuổi thì quá trình myelin hoá được hoàn tất về cơ bản. Khoảng giữa 7 – 14 tuổi, các rãnh và hồi não đã có hình dáng giống của người lớn. Sau khi sinh, tiểu não bắt đầu tăng trưởng mạnh, từ 3 tháng đã có sự phân hoá trong cấu trúc tế bào của tiểu não. Trong khoảng từ 1 đến 2 tuổi thì tiểu não của trẻ có khối lượng và kích thước tương đối gần với tiểu não của người lớn. Tới 5 – 6 tuổi thì hành tuỷ và não giữa giữ vị trí giống như vị trí có được ở người lớn xét về mặt chức năng. Sau năm đầu, khối lượng của tuỷ sống được tăng gấp đôi, tới 5 tuổi – gấp ba và lúc 14 – 15 tuổi tăng gấp 4 – 5 lần. Hoạt động TKCC của trẻ phát triển cùng với sự trưởng thành về hình thái của não bộ. Những năm đầu tiên của trẻ là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ của hoạt động TKCC. Cũng trong giai đoạn đó, các cơ quan cảm giác và các phần vỏ não của cơ quan phân tích được phát triển. Hệ vận động được phát triển với nhịp độ nhanh. Cuối cùng, hệ thống tín hiệu thứ hai – ngôn ngữ của trẻ – bắt đầu phát triển. Nhiệm vụ và đánh giá Nhiệm vụ 17 Nhiệm vụ 1 nêu khái quát cấu tạo của hệ thần kinh người kết hợp chỉ trên tranh vẽ – hình Nhiệm vụ 2 nêu sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi trẻ em tiểu học. Nhiệm vụ 3 thảo luận nhóm về vai trò của hệ thần kinh. Đánh giá Câu hỏi 1 hãy chỉ trên tranh các thành phần của hệ thần kinh người và nói chức phận của chúng hình và hình Câu hỏi 2 hãy tóm tắt những nét cơ bản của sự phát triển của hệ thần kinh ở trẻ em lứa tuổi tiểu học. Câu hỏi 3 cấu tạo của vỏ não người có gì khác với vỏ não của động vật? Tìm hiểu hoạt động thần kinh cấp cao ở trẻ em Tiểu học Thông tin Học thuyết hoạt động thần kinh cấp cao của Pavlov Theo Pavlov, phản xạ có điều kiện là đơn vị chức năng của hoạt động TKCC, được tạo ra trên cơ sở hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa các nhóm tế bào thần kinh khác nhau của vỏ não. Toàn bộ học thuyết được xây dựng theo 3 nguyên tắc dưới đây Nguyên tắc quyết định luận mọi phản xạ đều là phản ứng của cơ thể đối với những tác động từ môi trường bên ngoài hoặc bên trong cơ thể. Mỗi phản xạ đều có nguyên nhân gây ra nó. Pavlov đã chỉ ra rằng phản xạ là các phản ứng do hoạt động của não bộ tạo ra. Nguyên tắc cấu trúc cơ chế sinh lí của phản xạ có điều kiện là các đường liên hệ thần kinh tạm thời. Bản thân các đường liên hệ thần kinh tạm thời bao giờ cũng do cấu trúc nhất định thực hiện, tạo thành các mối tương quan chức năng mới trong quá trình phát triển cá thể. 18 Nguyên tắc phân tích và tổng hợp trong hoạt động thần kinh luôn luôn tồn tại hai quá trình – phân tích và tổng hợp. Quá trình phân tích xảy ra ngay tại các cơ quan thụ cảm. Vỏ bán cầu đại não đảm nhiệm chức năng phân tích và tổng hợp cao cấp. Vỏ bán cầu đại não điều khiển mọi hoạt động. Các đường liên hệ thần kinh tạm thời cũng như các hiện tượng tâm lí được hình thành trên vỏ não. Phản xạ không và có điều kiện Các phản xạ của người và động vật gồm 2 nhóm phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Phản xạ không điều kiện là phản ứng bẩm sinh của cơ thể. Phản xạ có điều kiện là phản ứng được hình thành trong quá trình sống của cá thể. Hai loại phản xạ này có những đặc điểm khác nhau như sau Đặc điểm của phản xạ có điều kiện Đặc điểm của phản xạ không điều kiện - Bẩm sinh, di truyền, có tính chất - Tự tạo, được hình thành trong đời sống cá thể, chủng loại. đặc trưng cho cá thể. - Rất bền vững. - Không bền vững. - Tác nhân kích thích thích ứng. - Tác nhân kích thích bất kì. - Đóng mở ở phần dưới vỏ não. - Đóng mở ở vỏ não. - Báo hiệu trực tiếp kích thích gây ra - Báo hiệu gián tiếp kích thích gây ra phản xạ phản xạ. không điều kiện tương ứng * Cơ chế thành lập phản xạ có điều kiện Theo Pavlov, phản xạ có điều kiện được thành lập trên cơ sở hình thành một con đường mới mà qua đó các luồng xung động thần kinh được dẫn truyền. Phản xạ có điều kiện được thiết lập sau khi đã có sự đóng lại của đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa hai phần của vỏ não. Điều này đã dẫn Pavlov đến sự phân biệt 19 2 cơ chế phản xạ trong hệ thần kinh trung ương cơ chế “dẫn” đối với phản xạ không điều kiện và cơ chế “nối” đối với phản xạ có điều kiện. Theo quan niệm của Pavlov, việc thành lập đường liên hệ thần kinh tạm thời chỉ có thể thực hiện được trong trường hợp trên vỏ não xuất hiện đồng thời 2 điểm hưng phấn một điểm thuộc trung khu nhận kích thích có điều kiện vô quan và một điểm thuộc trung khu của phản xạ không điều kiện, hay nói chính xác hơn là điểm đại diện trên vỏ não của trung khu đó. Dần dần giữa 2 điểm đó hình thành một đường liên hệ tạm thời. Lúc đầu, Pavlov cho rằng đường liên hệ tạm thời được nối theo một chiều từ điểm hưng phấn yếu đến điểm hưng phấn mạnh. Sau này ông kết luận rằng đường liên hệ tạm thời xảy ra theo cả 2 chiều. * Những điều kiện để thành lập phản xạ có điều kiện Để bảo đảm cho việc thành lập phản xạ có điều kiện được nhanh chóng và lâu bền, cần chú ý những điều kiện sau Phải lấy một phản xạ không điều kiện làm cơ sở. Trong trường hợp thành lập phản xạ có điều kiện cấp cao, thì phản xạ có điều kiện mới được xây dựng trên cơ sở một phản xạ có điều kiện đã có. Phải có một số lần kết hợp nhất định giữa kích thích có điều kiện và không điều kiện hoặc kích thích có điều kiện đã có. Số lần kết hợp này nhiều hay ít là tuỳ theo từng trường hợp và tuỳ theo từng đứa trẻ. Kích thích có điều kiện càng vô quan nghĩa là không liên quan đến phản xạ không điều kiện hoặc có điều kiện được dùng làm cơ sở thì càng dễ thành lập phản xạ có điều kiện. Như thế có nghĩa là, về phương diện sinh học, kích thích có điều kiện phải được chọn trong những kích thích yếu hơn kích thích không điều kiện chủ yếu về cường độ sinh học. 20 Có thể nói đi học lớp 1 là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của trẻ vì trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi của lứa tuổi mẫu giáo sang hoạt động học tập. Ở trường Tiểu học, học là hoạt động chủ đạo và bắt buộc, học phải tạo ra sản phẩm hoàn thành các nhiệm vụ học tập, làm bài tập, trả lời câu hỏi theo tiến độ của cả lớp. Vì vậy biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo bước vào lớp 1 giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và thích được đi học là một việc làm vô cùng cần thiết Tuổi mầm non làm những bậc thang, là nền móng cho những bậc thang kế tiếp cho cuộc đời của một đứa trẻ, vì thế việc đến trường tiểu học được coi là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời, là một bước chuyển biến mang tính nhảy vọt. Vì thế trẻ có sự biến đổi giữa lớp mầm non và một hoạt động mới, một vị trí xã hội mới với những mối quan hệ mới của một người học sinh thực thụ. Chính vì thế là một giáo viên mầm non dậy lớp lá tôi đã chuẩn bị tâm lí và một số tố chất sẵn sàng cho trẻ lớp của tôi một biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo bước vào lớp 1. Vì sao cần chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1? Việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 là rất cần thiết, vì Trẻ từ mầm non sang lớp 1 là một bước chuyển lớn. Nhiều trẻ sẽ bỡ ngỡ và có thể gặp không ít khó khăn lúc mới vào lớp 1, khi đang quen được chăm sóc, vui chơi phải chuyển sang môi trường mới, với hoạt động học tập là chính, ngồi một chỗ, viết bài, làm toán trong thời gian dài. Và đó cũng là nhiệm vụ chủ yếu của trường mầm non thông qua đó các cô giáo chuẩn bị cho trẻ bằng cách thiết kế những hoạt động, nội dung theo chương trình giáo dục mầm non nhằm giúp trẻ phát triển tốt về thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ. Xem thêm Xu hướng đổi mới trong giáo dục mầm non hội nhập quốc tế B. – GIẢI QUYẾT VẦN ĐỀ 1. Biện pháp 1 Ngay từ ngày đầu nhận lớp tôi đã tạo mối quan hệ thân thiết với trẻ thông qua trò chuyện tôi giới thiệu tên, từng trẻ giới thiệu tên mình… Mục đích của tôi là cho trẻ hiểu sau 1 năm học, lớp thêm một tuổi, được làm anh chị vì trẻ rất thích làm người lớn và khi đó trẻ có ý thức được vai trò của mình và hiểu được “mình phải lên lớp mới”. 2. Biện pháp 2 Chuẩn bị về mặt thể chất – Tăng cường tính tự lập trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân. – Luyện tập thường xuyên khả năng vận động thô chạy sức bền, trèo lên xuống thang, đi trên ghế băng đầu đội túi cát… – Phát triển vận động tinh, sự khéo léo của đôi bàn tay, các giác quan, tự xỏ quai giày, tự cài nút áo, tự xếp quần áo sau khi thay đồ. Các thói quen này rất có ích cho trẻ hình thành tính độc lập, không phụ thuộc, ỷ lại vào người khác. – Trẻ được phân công làm công việc trực nhật xếp muỗng, bê đồ ăn phụ cô. Thông qua hành động nàytrẻ còn học được một số quy luật trong phép đếm 11. VD có 5 bạn thì xếp 5 muỗng. – Cho trẻ chơi một số trò chơi đòi hỏi sự khoé léo, sáng tạo trong giờ vui chơi ngoài trời hay giờ tạo hình. 3. Biện pháp 3 Phát triển về mặt trí tuệ và phát triển ngôn ngữ. – Tận dụng mọi cơ hội để kích thích hứng thú của trẻ đối với hoạt động trí óc tự giải quyết 1 số tình huống xảy ra hàng ngày, có sự hiểu biết cơ bản về bản thân, gia đình, xã hội, biểu tượng về thời gian, không gian, một số kĩ năng cơ bản về toán học. VD Bảng thời tiết, lịch. Trò chơi lập kế họach đi du lịch, chơi trốn tìm. – Phát triển tư duy thông qua kể chuyện đàm thoại, đặt câu hỏi về nội dung; suy luận, phán đoán thông qua câu đố, trò chơi. – Dạy trẻ biết viết tên mình một cách tự nhiên không gò ép, điểm danh bằng bảng tên, nhận ra tên mình trên bài tập cá nhân. – Cho trẻ làm quen chữ cái thông qua một số trò chơi + Tìm từ phụ hợp với hình. + Tìm con chữ đã học thông qua bài thơ Vd tìm con chữ ” u- ư” trong bài thơ bé làm bao nhiêu nghề. + Luyện phát âm thông qua thơ, đồng dao. VD Bài ” Đi cầu đi quán” + Trò chơi sao chép con chữ – Cho trẻ làm quen nhiều kiểu chữ chữ in thường, chữ viết thường, chữ in hoa, chữ viết hoa. – Trong giờ học tôi cho trẻ làm quen một số thuật ngữ toán học ” nhiều hơn, ít hơn”, những con số… – Trong giờ chơi cho trẻ chơi một số trò chơi Bán hàng trẻ đóng vai người bán hàng, người mua hàng. Trò chơi Bác sĩ trẻ biết dùng viết ghi tên bệnh nhân, ghi tên thuốc. Góc khoa học ghi lại kết quả thí nghiệm, lập bảng. – Giờ văn học tội đọc truyện, kể cho trẻ nghe và cho trẻ xem hình ảnh, kể lại truyện theo sự ghi nhớ và tưởng tượng của trẻ. 4. Biện pháp 4 Phát triển tình cảm xã hội. – Thông qua hình thức đi tham quan, dã ngoại trẻ hiểu được và chấp hành những nội quy, quy định chung của nơi trẻ đến. – Giáo dục trẻ tạo dựng mối quan hệ tốt với bạn bè và người lớn xung quanh cô giáo, người thân ông, bà, cha, mẹ, chú, bác…. Thông qua các ngày lễ hội, tôi cho trẻ làm các tấm thiệp và ghi vào đấy lời chúc mừng. – Thông qua tranh ảnh, thơ truyện đặt câu hỏi kích thích trẻ biểu lộ cảm xúc, suy nghi của mình thông qua trò chơi phân vai. VD trò chơi gia đình. – Tổ chức các trò chơi giúp trẻ tự tin và sáng tạo. VD trò chơi xếp hình, xây dựng… 5. Biện pháp 5 Chuẩn bị một số kĩ năng cần thiết cho hoạt động học tập. – Tạo điều kiện rèn luyện 1 số kỹ năng sống cơ bản của hoạt động học tập sắp xếp bàn ghế, hoạt động nhóm, cách cầm bút, tư thế viết. – Làm quen một số đồ dùng hoạ tập của trường tiểu học. – Tham quan các trường tiểu học để trẻ hiểu rõ hơn về môi trường học mới. Và các hình thức hoạt động, vui chơi ở trường tiểu học. – Tuyên truyền cho phụ huynh là vấn đề tôi cũng rất quan tâm vì phụ huynh là trợ thủ đắc lực trong việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Bản thân tôi rất hay trao đổi với phụ huynhvề tình hình học tập và vui chơi của trẻ ở lớp, những gì mà trẻ quan tâm…Tôi trao đổi cho phụ huynh hiểu và ủng hộ những biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo bước vào lớp 1. Xem thêm Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi học tốt môn làm quen chữ cái C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC – Với việc áp dụng những hình thức dạy trẻ như trên tôi thấy trẻ hứng thú, hoạt động sôi nổi, hiểu bài nhanh hơn và ngày càng nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin hơn. – Còn về bản thân tôi, qua quá trình thực hiện tôi càng thấy mình được nâng cao hơn về chuyên môn, phương pháp giảng dạy, đặc biệt là hình thức giảng dạy trẻ linh hoạt, sáng tạo, tự tin hơn. D. KẾT THÚC VẤN ĐỀ – Là giáo viên khối lá, bản thân tôi luôn học hỏi trau dồi kiến thức để nuôi dạy trẻ ngày càng tốt hơn. Để thực hiện biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo bước vào lớp 1 thì không riêng gì nhiệm vụ của các giáo viên mầm non mà còn phải có sự phối hợp tốt và sự hỗ trợ của gia đình, nhà trường và xã hội. Tôi xin cam kết các sáng kiến kinh nghiệm này là do chính cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường tự viết. Các biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo bước vào lớp 1 mà các tác giả đưa ra đã được áp dụng trong thực tế quản lý giáo dục hoặc giảng dạy đạt hiệu quả cao tại nhà trường và chưa từng được đăng tải trên mạng internet, chưa từng được công bố trên sách, báo hay đã được hội đồng sáng kiến các cấp công nhận. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Ngày đăng 04/02/2015, 2138 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM    Bài kết thúc học phần Môn Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên Giảng viên ThS. Đỗ Dung Hòa Sinh viên Nguyễn Thanh Tâm Lớp K48 sư phạm ngữ văn Hà Nội 9/ 2005 I. MỞ ĐẦU Trong suốt cuộc đời mình, từ khi sinh ra cho tới khi bước sang thế giới bên kia, con người luôn có những nhu cầu tâm lí cần thỏa mãn. Chẳng hạn nhu cầu về hợp tác, giúp đỡ trao đổi thông tin, kinh nghiệm nhu cầu về tình bạn, tình yêu để được người khác cảm thông, chia sẻ yêu thương cũng như được cảm thông, xẻ chia với niềm vui, nỗi buồn của người khác để cảm thấy mình không bị cô đơn, lạc lõng, để rồi cảm thấy mình có ý nghĩa hơn. . . những nhu cầu ấy chỉ có bản thân con người mới có thể làm thỏa mãn được. Và một trong những nhu cầu tâm lí xã hội cơ bản nhất mà con người muốn thỏa mãn, cũng là nhu cầu cơ sở đáp ứng những nhu cầu khác, đó là nhu cầu giao tiếp. Theo từ điển Tiếng Việt thì “giao tiếp” có nghĩa là gặp gỡ và trao đổi giữa các đối tượng từ hai người trở lên bằng những hình thức giao tiếp khác nhau bằng ngôn ngữ lời nói hoặc chữ viết, cử chỉ gương mặt, bắt tay hay những hành động tiếp xúc khác từ đó có thể khẳng định rằng Giao tiếp là “một hoạt động tâm lí xã hội đặc biệt, trong đó người này tiếp xúc và đối tác với người kia để có sự truyền thông tâm lí cho nhau hoặc để cùng nhau thực hiện một hoạt động tâm lí ”trang 14 - Tâm lí học giao tiếp - GS Trần Tuấn Lộ. Hoạt động tâm lí này xuất hiện và trải dài theo sự phát triển của con người. Ngay từ khi sinh ra, trẻ đã giao tiếp với những người thân - nhất là với mẹ - bằng những hình thức đơn giản nhất nắm ngón tay, khi được mẹ bế thì trẻ không khóc nữa . Dần dần phạm vi nội dung và các hình thức giao tiếp được mở rộng đa dạng, phong phú hơn. Khi trẻ biết nói, biết sử dụng ngôn ngữ thì hoạt động giao tiếp có sự chuyển biến đặc biệt về chất. Từ lúc biết nói ấy cho đến hết cuộc đời, hoạt động giao tiếp của trẻ mang nhiều sắc thái, nhiều đặc điểm khác nhau theo từng giai đoạn phát triển. Trong đó, hoat động giao tiếp ở lứa tuổi tiếu niên là giai đoan quan trọng nhất, có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến sự phát triển tâm lí, sự phát triển nhân cách của trẻ. Trong bài viết dưới dây, người viết xin được nói rõ hơn về hoạt động giao tiếp đặc biệt và thú vị ở lứa tuổi thiếu niên này. 2 II. NỘI DUNG Thiếu niên là lứa tuổi từ 11, 12 đến 15, 16 tuổi. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của trẻ. Do vậy hoạt động giao tiếp ở giai đoạn này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển nhân cách của các em. Ở lứa tuổi tiếu niên, sự phát triển của các em được gọi bằng những tên gọi khác nhau thời kì quá độ, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng, khủng hoảng tuổi dậy thì, tuổi bất trị Đây là thời kì quá độ từ trẻ con lên người lớn tạo nên sự đặc thù về nhiều mặt thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội Dường như ở tất cả các mặt đều diễn ra sự thay đổi mới về chất, trẻ xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả của sự tự ý thức, của kiểu quan hệ mới với người lớn và với bạn bè cùng tuổi Từ đó, có thể thấy hoạt động giao tiếp ở thiếu niên là đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự quan tâm của những người làm giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung. 1. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên Bất cứ một sự phát triển nào đều chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan và khách quan, sự phát triển quan hệ giao tiếp ở thiếu niên cũng vậy. Yếu tố chủ quan chính là sự phát triển đặc biệt về thể chất, yếu tố khách quan là hoàn cảnh gia đình, nhà trường, xã hội và thái độ của những người xung quanh Trước hết xin được nói về sự phát triển sinh lý ở lứa tuổi này. Nếu như đối với trẻ dưới 10 tuổi sự phát triển của cơ thể trẻ diễn ra êm ả, từ từ thì đến độ tuổi thiếu niên, cơ thể của các em có sự phát triển mạnh mẽ nhưng không cân đối. Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng như tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục, tuyến thượng thận tạo ra nhiều sự thay đổi trong cơ thể trẻ, nhất là sự thay đổi về chiều cao và cân nặng. Hệ xương phát triển mạnh, tuyến sinh dục phát triển và xuất hiện những dấu hiệu phụ của giới tính. Hoạt động thần kinh cấp cao có những đặc điểm riêng biệt hưng phấn thường mạnh, dễ lan tỏa, rất khó tập trung, dẫn đến hiện tượng các em có những 3 hành động thừa, dễ xúc động, bực tức, khó làm chủ cảm xúc của mình. Đặc biệt thiếu niên cảm thấy mình lớn rõ rệt và có những cảm xúc mới, nhất là những rung cảm giới tính điều này có ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến hoạt động giao tiếp của thiếu niên. Yếu tố thứ hai có ảnh hưởng tới sự phát triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên là sự thay đổi về mặt xã hội. Ở lứa tuổi này, gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội đều nhìn nhận vị trí mới của trẻ. Trẻ được thừa nhận rằng các em đã trưởng thành. Ơ gia đình, các em đã tham gia vào nhiều hoạt động mang tính chất người lớn tham gia lao động sản xuất; đóng góp ý kiến trong những việc quan trọng của gia đình. Ơ nhà trường và xã hội các em vừa học tập, vừa tham gia các hoạt động xã hội khác yếu tố này một mặt làm cho người lớn ý thức được sự “lớn lên” của trẻ, mặt khác làm cho bản thân trẻ xuất hiện “cảm giác là người lớn”, hoạt động giao tiếp của trẻ vì thế mà có sự biến đổi về chất. Như vậy hoạt động giao tiếp của thiếu niên là một hoạt động tâm lý-xã hội quan trọng và bị chi phối bởi sự phát triển sinh lý, xã hội của trẻ. 2. Sự phát triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên Tầm quan trọng của thiếu niên không chỉ ở sự biến đổi về thể chất mà ở chỗ, trong thời kì này diễn ra sự phát triển đặc biệt của quan hệ giao tiếp 1 Sự chuyển tiếp từ một kiểu quan hệ đặc trưng giữa người lớn-trẻ con đặc trưng cho tuổi ấu thơ sang một kiểu mới về chất-đặc thù của sự giao tiếp người lớn; 2 Sự bình đẳng đầy thú vị trong giao tiếp với bạn cùng tuổi. Sự giao tiếp của thiếu niên với người lớn - sự hình thành kiểu quan hệ mới Ở tuổi thiếu niên xuất hiện một cảm giác rất độc đáo là “cảm giác mình đã là người lớn”. Các em tự thấy mình không còn là trẻ con nữa nhưng lại cũng có cảm giác mình chưa thực sự là người lớn. Thực ra cảm giác về sự trưởng thành này của bản thân là nét đặc trưng, là trung tâm trong nhân cách thiếu niên. Bởi vì nó biểu thị lập trường sống mới của thiếu niên đối với mọi hành vi và đối với thế giới xung quanh; nó quyết định 4 phương hướng và nội dung của tính tích cực xã hội ở thiếu niên; quyết định hệ thống những rung động và những phản ứng cảm xúc mới của trẻ. Cảm giác về sự trưởng thành này của thiếu niên có thể là do các em tự ý thức và đánh giá được sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, khiến trẻ cảm thấy mình lớn một cách “có căn cứ”. Tuy nhiên, nguồn gốc làm nảy sinh “cảm giác là người lớn “ở các em chính là yếu tố xã hội, nó gắn liền với thế giới người lớn và bạn bè xung quanh. Thiếu niên tham gia nhiều hơn trước vào cuộc sống xã hội, tính tự lập và lòng tin ở những người xung quanh làm cho các em cảm thấy mình giống người lớn ở nhiều điểm. Mặt khác, bản thân người lớn cũng không hoàn toàn xem thiếu niên là những đúa trẻ trước đây, và ở một khía cạnh nào đó người lớn yêu cầu các em cư xử theo chuẩn mực của người lớn Tất cả nhưng điểm đó đã tạo nên cho thiếu niên nguyện vọng muốn được làm người lớn, được đối xử như người lớn. “Cảm giác mình đã là người lớn“ được thể hiện rất phong phú về cả nội dung và hình thức. Các em chú ý nhiều hơn đến hình thức bên ngoài, tác phong, cử chỉ và những phẩm chất tâm lí, khả năng của mình vì đây là những biểu hiện dễ thấy tính chất người lớn hơn cả. Trong học tập, các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm và lập trường riêng. Trong xã hội, thiếu niên cũng chỉ muốn phụ thuộc vào người lớn ở một mức độ nhất định. Các em đòi hỏi, mong muốn đựoc người lớn đối xử bình đẳng, không can thiệp quá tỉ mỉ vào đời sống riêng của các em. “ở tuổi này, chúng em tự đi tìm chính mình. Dù thành công hay thất bại, chúng em sẽ tự thấy mình xấu hay đẹp hơn về tinh thần” Pascal-16 tuổi, dẫn từ “Nói với tuổi mới lớn”. Ở tuổi này thiếu niên bắt đầu chống đối những yêu cầu mà trước đây nó vẫn thực hiện một cách tự nguyện. Các em quyết tâm bảo vê quan điểm và ý kiến của mình trong cả lời nói và việc làm, thậm chí nhiều em còn tỏ thái độ coi thường những yêu cầu của người lớn. Nhìn chung những biểu hiện về tính “người lớn” ở thiếu niên là muôn hình muôn vẻ và có sự biẻu hiện không giống nhau ở trẻ vị thanh niên. 5 Nguyện vọng muốn được tin tưởng và được đối xử bình dẳng nhất định với người lớn có ý nghĩa không nhỏ tới việc thúc đẩy ở thiếu niên tính tích cực hoạt động, chấp nhận những yêu cầu đạo đức và hành vi của người lớn. Nhưng mặt khác, nó cũng có thể khiến các em chống đối lại khi người lớn chăm sóc, điều khiển trẻ một cách thái quá mà không quan tâm đến ý kiến riêng của trẻ. Từ đây nảy sinh mâu thuẫn, làm cho quan hệ của thiếu niên với người lớn trở nên khó khăn hơn. Mà nguyên nhân chính của hiện tượng này đó là do sự mâu thuẫn trong thái độ của người lớn với thiếu niên. Bên cạnh việc công nhận và đòi hỏi tính người lớn ở thiếu niên thì đối với người lớn nhất là những ông bố, bà mẹ lại vẫn cảm thấy con mình còn bé nhỏ, còn là những “cậu học trò” học sinh phụ thuộc vào bố mẹ nhiều mặt. Không những thế, ngay trong dáng dấp, hành vi của thiếu niên cũng có những biểu hiện mang tính trẻ con. Vì vậy mà người lớn vẫn xem thiếu niên là những đứa trẻ như trước đây. “Mười năm tuổi không ai gọi tôi là người lớn mặc dù mỗi ngày đứng trước gương tôi thấy mình cao hơn nhiều so với năm mười ba mười bốn. Tóc tôi đã dài đến ngang vai chứ không ngắn cũn giống con trai như hồi bé. Tôi không còn bày trò chọc phá anh Hai, không suốt buổi đi nhong nhong với đám bạn cùng xóm để chiều về thấy mẹ lăm lăm cây roi trong tay. Giã từ tất cả những trò nghịch ngợm trước đây, tôi bắt đầu có vẻ nghiêm chỉnh của một người lớn. Nhưng điều đó chỉ có mỗi mình tôi cảm nhận được thôi, còn dưới mắt mọi người, tôi vẫn là một đứa con nít phá phách, ưa gây phiền toái. ” Nguyễn Ngọc Minh Hoa, dẫn theo báo Hoa hoc trò. Do vậy mà ngay từ buổi đầu thiếu niên đã có những tình huống dễ dàng nảy sinh mâu thuẫn với người lớn nếu người lớn vẫn duy trì quan hệ với thiếu niên như trẻ con trước đây. “Từ ngày bắt đầu lớn, tôi có rất nhiều “vấn đề” với ba mẹ. Dường như hai bên không còn thông cảm với nhau được nữa. Ba mẹ áp đặt đủ thứ vì nghĩ đó là điều tốt nhất cho tôi mà chẳng cần tìm hiểu xem tôi thực sự cần gì. ” Clarisse, 15 tuổi “Nói với tuổi mới lớn”. Khi ý thức tự trọng và ý thức cần được đối xử như người lớn phát triển, thiếu niên thường tự đánh giá năng lực của mình cao hơn mức bình thường, 6 thậm chí là “phóng đại” lên điều này lí giải vì sao thiếu niên có thái độ ngang bướng, bất cần, chống đối với những việc bình thường hàng ngày và những thất bại của bản thân thiếu niên. Đây chính là một khó khăn điển hình trong giao tiếp của thiếu niên với người lớn. Trên thực tế, nhiều ông bố bà mẹ nhận thấy sự phát triển nhảy vọt ở con mình thì thường sợ rằng con mình đã lớn và sẽ rời xa mình cảm giác này thường xuất hiện nhiều và mạnh ở người mẹ. Chính lòng thương con ấy càng khiến cho việc từ bỏ thói quen chăm sóc, điều khiển, kiểm tra con cái một cách tỉ mỉ của các bậc phụ huynh trở nên khó khăn hơn. Vì thế mà sự “đụng độ” giữa người lớn và thiếu niên xảy ra thường xuyên hơn, thậm chí nhiều khi trở nên gay gắt. Do vậy mà không ít những bà mẹ, trước sự thay đổi của con muốn tìm hiểu xem con mình đang nghĩ gì, định làm gì đã đọc trộm nhật ký của con. Khi biết được chuyện này thiếu niên trở nên tức tối, thất vọng và cảm giác không thể tin tưởng, thậm chí nhiều em xa lánh coi thường bố mẹ Chính sự quan tâm quá mức mà không hiểu được sự phát triển tâm lý của thiếu niên mà người lớn đã vô tình tạo ra hố sâu khoảng cách trong quan hệ của thiếu niên với người lớn. Do vậy mà không ít trẻ ở độ tuổi này đã viết thư, gọi điện đến những chuyên viên tâm lí, đến đài, báo, tạp chí dành cho lứa tuổi các em mới lớn để than vãn và bày tỏ thái độ “Em không thể chấp nhận được việc mẹ em đã đọc lén nhật ký của em, em đã mất hết niềm tin vào bố mẹ. Em phải làm gì khi bố mẹ đã đọc trộm bức thư em gửi cho K. Trong khi em đã giấu bức thư đó ở tận đáy tủ ”. Nếu cứ duy trì tình trạng như thế thì mâu thuẫn giữa người lớn và thiếu niên ngày càng trở nên sâu sắc, nhiều khi khiến các em trở căm ghét bố mẹ, nghe theo lời rủ rê của những kẻ xấu và trở nên sa ngã Không những thế, nếu cả hai bên không cố gắng thay đổi thì mâu thuẫn này sẽ kéo dài suốt cả thời kì thiếu niênvà mức độ xung đôt có thể sẽ tăng lên. Theo thời gian, bằng những hình thức không phục tùng và chống đối khác nhau, thiếu niên đã phá vỡ quan hệ trẻ con với người lớn trước đây và buộc họ vào kiểu quan hệ mới. Nếu quan hệ đó không được thay đổi hay thay thay đổi chậm sẽ làm cho thiếu niên xa lánh người lớn, cho rằng người lớn bảo thủ, không thể hiểu và không chịu 7 hiểu những ý kiến của các em. Từ đó người lớn dễ mât đi vị trí giáo dục cũng như ảnh hưởng của mình tới trẻ. Do vậy, trong quan hệ giao tiếp với thiếu niên người lớn phải có những hiểu biết nhất định về lứa tuổi dậy thì này. Người lớn phải tế nhị, khéo léo và tôn trọng quyền độc lập, bình đẳng ở các em, định hướng cho các em trong nhiều hoạt động. Hoạt động giao tiếp của thiếu niên với bạn bè Như chúng ta đã biết, hoạt động giao tiếp ở thiếu niên bao gồm hai hệ thống chính là giao tiếp với lớn và với bạn bè chủ yếu là bạn cùng tuổi . Trong mối quan hệ giao tiếp với người lớn ở vị trí không bình đẳng, nguyên tắc trong mối quan hệ này là “đạo đức vâng lời”, nó thường mang đến cho thiếu niên cảm thấy bị điều khiển, làm cho “cảm giác là người lớn” của trẻ bị nén lại. Trong khi đó, ở hoạt động giao tiếp với bạn cùng tuổi lại mở ra cho thiếu niên một cảm giác mới. Trong mối quan hệ này, các em ở vị trí bình đẳng và tạo ra cho mình “đạo đức vâng lời”, ý kiến của các em đưa ra đều được lắng nghe và tôn trọng Chính nguyên tắc bình đẳng trong giao tiếp bạn bè đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ với các em. Sự đối lập ở hai vị trí khác nhau trong giao tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi đã cho thấy chỉ có sự giao tiếp với bạn bè chứ không phải với người lớn đã đem lại cho thiếu niên sự thỏa mãn nhiều hơn, trở nên cần thiết hơn và vai trò chủ đạo hơn trong sự phát triển đạo đức, sự phát triển nhân cách của các em. Như vậy, có thể khẳng định rằng hoạt động giao tiếp với bạn cùng tuổi là hoạt động chủ đạo trong hoạt động giao tiếp của thiếu niên. Sự mới mẻ trong vị trí giao tiếp đã làm cho hoạt động giao tiếp của thiếu niên trở nên đặc biệt hấp dẫn. “Đạo đức bình đẳng” phù hợp với cảm giác trưởng thành của các em, từ đó mà tạo ra sự phát triển quan hệ bạn cùng tuổi theo chiều sâu, mang nhiều giá trị tích cực. Quan hệ của các em trở nên phong phú, phức tạp và đa dang hơn so với học sinh tiểu học. Các em có thể tâm sự với nhau hàng giờ, hàng buổi về rất nhiều chuyện lớn nhỏ khác nhau mà không biết chán. Trong nhóm bạn, các em có điều kiện hơn để hoạt động độc lập, trao đổi, tìm hiểu, tâm sự với nhau về 8 những vấn đề cùng quan tâm. Tuy nhiên, tùy từng mối quan hệ mà thiếu niên chia ra các mức độ khác nhau trong tình bạn như bạn cùng học, bạn cùng trường, bạn hay chơi, ban thân Lúc đầu, phạm vi giao tiếp của các em còn rộng nhưng chưa bền vững, dần dần các em sẽ gắn bó với nhau trong một phạm vi hẹp hơn. Với thiếu niên, việc giao tiếp với bạn cùng tuổi là quan hệ riêng của cá nhân các em và người lớn không có quyền can thiệp vào. Đây thực ra cũng là một nhu cầu chính đáng ở tuổi thiếu niên. Các em mong muốn có một tình bạn chân thành, thân thiết đẻ có thể gửi gắm mối tâm tình, để các em có thể trao đổi những băn khoăn, thắc mắc về sự phát triển tâm lí cũng như những vấn đề riêng tư của tuổi mới lớn. Nếu như quan hệ của thiếu niên với người lớn càng không suôn sẻ, không thuận hòa thì sự giao tiếp với bạn bè càng lớn và sự ảnh hưởng tới thiếu niên càng mạnh mẽ hơn. Trong quan hệ của mình, thiếu niên luôn muốn được bạn bè chú ý, quan tâm, thừa nhận và tôn trọng mình. Nguyên vọng hai mặt này của thiếu niên khát vọng giao tiếp và được bạn bè tôn trọng là nhu cầu quan trọng trong đời sống tình cảm của các em. Nhu cầu này khiến cho thiếu niên nhạy cảm hơn với những ý kiến đánh giá tích cực lẫn tiêu cực của bạn bè. Những lời nhận xét của bạn giúp trẻ nhận ra những thiếu sót và cố gắng đáp ứng những yêu cầu đưa ra trong quan hệvới bạn. Đồng thời, các em cũng đưa ra cho bạn những nhu cầu mới về hành vi, quan hệ sau đó các em tự theo dõi, đánh giá lẫn nhau, giúp nhau cùng tiến bộ. Mặt khác, những lời nhận xét mang tính “hiềm khích”, hay sự bát hòa trong quan hệ với bạn cùng tuổi, sự tan vỡ một tình bạn đều mang đến cho các em những cảm xúc nặng nề-được đánh giá như một bi kịch của cá nhân. Sự khó chịu nhất với thiếu niên là sự lên án của tập thể, sự tẩy chay của bạn bè. Sư đơn độc trải nghiệm thường năng nề và hầu như không thể chịu đựng nổi với thiếu niên. Những yếu tố đó thôi thúc thiếu niên sửa chữa lỗi lầm của mình, nhưng ở không ít em điều đó lại đẩy đến việc tìm bạn bè bên ngoài nhà trường, dẫn đến một số em bị lôi kéo bởi các nhóm, các bè đảng tự phát dưới nhiều hình thức. 9 Do vậy người lớn nhất là những người làm công tác giao dục phải lưu ý đến việc định hướng cho sự lựa chọn bạn của trẻ, tránh những hậu quả đáng tiếc. Tình bạn ở thiếu niên có nhiều nội dung và sắc thái mới so với trước đây mà đặc trưng hơn cả chính là những yêu cầu của các em về tình bạn chân chính, người bạn chân chính. Nếu như ở tiểu học, các em thường đánh giá vị trí của bạn qua học tập, qua sự thực hiện những yêu cầu của người lớn những đứa trẻ học giỏi, ngoan ngoãn, vâng lời thường được khen và có nhiều bạn quý mến. Bước sang tuổi thiếu niên, những phẩm chất được các em đánh giá là quan trọng đã thay đổi. Các phẩm chất mà các em quan tâm là tình đồng chí, tình bạn, sự nhiệt tình, nang nổ, trung thành Vì thế, nhiều học sinh được bố mẹ, giáo viên đánh giálà tốt nhiều khi không trùng hợp với nhưng học sinh mà các em xem là có uy tín nhất. Thực tế cũng cho thấy nhiều học sinh ngoan, học giỏi nhiều khi khong hoàn toàn là mẫu người bạn mà các em chọn. Tiêu chuẩn hàng đầu của các em với bạn bè là tôn trọng các phẩm chất của con người. Do vậy, không ít giáo viên khi mới nhận lớp, do chưa hiểu rõ về lớp, khi xây dựng cán bộ lớp, cán bộ đội đã không trưng cầu dân ý “ mà lựa chọn ngay những em có kết quả học tốt. Điều này khiến cho những học sinh khác có tâm lí không đồng ý nhưng lại không biêu lộ thái độ gì và đánh giá giáo viên, cho rằng giáo viên thiên vị, thiếu khách quan, thậm chí nghi ngờ năng lực của giáo viên. Do đó người giáo viên cũng cần phải lưu ý vấn đề này trong quá trình lãnh đạo lớp. Nhìn chung tình bạn ở tuổi thiếu niên rất hồn nhiên và trong sáng, những tính toán vị kỉ thường để lại những dấu ấn khó phai mờ trong suốt cả cuộc đời các em. Các em chơi với nhau vô tư thoải mái, những ưu điểm của bạn cùng học mà trẻ thích thường làm các em nảy sinh những đánh giá về mình một cách nghiêm túc, từ đó nhận thấy mình còn thiếu những phẩm chất gì mà đươc bạn bè đánh giá cao. Lúc đó bạn bè trở thành hình mẫu và thiếu niên cố gắng bắt trước, rèn luyện mình theo mẫu đó. Đây là một khía cạnh tích cực trong tình bạn của tuổi thiếu niên, giúp các em hoàn thiện nhân cách của nhau. 10 [...]... của thiếu niên với người lớn-sự hình thành kiểu quan hệ mới 2 2 Quan hệ giao tiếp của thiếu niên với bạn cùng tuổi 3 Biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên tiểu kết 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Tập bài giảng tâm lí học lứa tuổi và sư phạm- Khoa sư phạm- Đại học quốc gia Hà Nội 2 Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm- NXB Giáo dục- PGS Lê Văn Hồng chủ biên 3 Tâm lí học lứa. .. người làm công tác giáo dục- người giáo viên và tìm ra hướng giải quyết phù hợp với cách ứng xử, quan điểm giáo dục của bạn để từ đó tìm ra biện pháp giáo dục tình bạn khác giới tốt đẹp cho thiếu niên một cách hoàn hảo hơn cả Trong giờ sinh hoạt cuối tuần tại lớp bạn, bạn đang nhận xét tình hình của lớp thì phát hiện ra có một nam sinh và nữ sinh ngồi gần nhau mất trật tự Bạn đi xuống và thấy mảnh giấy... giao tiếp với bạn cùng tuổi ở thiếu niên là rất to lớn Vì qua hoạt động giao tiếp này các em đã hình thành được những chuẩn mực của kiểu quan hệ đặc biệt - quan hệ nhân cách đặc thù của người lớn 11 Măc dù vậy người lớn, nhất la giáo viên cần phải lưu ý rằng trong giao tiếp với bạn cùng tuổi, thiếu niên do yêu quý bạn, tin tưởng bạn, đã cảm thông, thậm chí đồng tình với những điểm còn chưa tốt ở bạn. .. hợp với quy luật phát triển ở thiếu niên Hơn lúc nào hết, thiếu niên cần một người bạn chân thành, tin cậy, có thể cảm thông, chia sẻ với các em Những can thiệp thô bạo của người lớn dễ làm cho thiếu niên bị tổn thương, bị chế giễu, xúc phạm và thường dẫn đến hậu quả không tốt đẹp Điều này đòi hỏi nhà giáo dục phải có những phương pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho thiếu niên một cách lành mạnh, trong... các em Vì vậy 17 việc giáo dục quan hệ tình bạn tốt đẹp cho thiếu niên là một việc quan trọng với những người làm giáo dục Tuy nhiên, đây là vấn đề vô cùng nan giải, do hoạt động giao tiếp của các em là muôn hình muôn vẻ, có rất nhiều tinh huống xảy ra đòi hỏi người làm giáo viên phải hết sức nhiệt tình và tâm huyết với nghề, luôn kiên nhẫn và quan tâm, khuyên bảo, định hướng cho các em Vì thế xin... đặc biệt quan trọng Trước khi nói về biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho quan hệ tình bạn khác giới của thiếu niên, người viết xin được đưa ra một số tinh huống sư phạm sau Mỗi tình huống có những cách giải quyết khác nhau, có thể chỉ có một lựa chọn tối ưu nhất, nhưng cũng có thể có nhiều giải pháp trong một tình huống Đưa ra các tình huống này người viết mong rằng các bạn hãy thử đặt mình vào vị... lớn, giúp các em trương thành về mặt xã hội 3 Những biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp ở thiếu niên Như trên đã nói, hoạt động giao tiếp với bạn cùng tuổi là hoạt động chủ đạo và chi phối không nhỏ tới sự phát triển tâm lí, nhân cách của thiếu niên Tuy nhiên, trong hoạt động giao tiếp của các em, do chưa thực sự tưởng thành nên trong cách ứng xử, giao tiếp của mình các em luôn cần có sự hướng dẫn, uốn... người viết nhận thấy có một số vấn đề nổi trội trong giao tiếp của thiếu niên với bạn cùng tuổi và biện pháp giáo dục như sau Ở lứa tuổi thiếu niên, sự lên án chân thành và thẳng thắn của tập thể, sự tẩy chay của bạn bè sẽ là những tình huống rất khó chịu với các em Vì vậy, người giáo viên phải đặc biệt lưu ý, tránh tình trạng phê bình tập trung và phê bình các em trước đám đông Vì ở nhiều em sự phê... đang và sẽ là điều thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội Thay cho lời kết, người viết xin một lần nữa nhấn mạnh ý nghĩa vô cùng to lớn của những bông hoa học trò này, hy vọng một thế hệ trẻ mới có được sự phát triển toàn diện hơn 18 MỤC LỤC I Phần mở đầu II Phần nội dung 1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên 2 Các quan hệ giao tiếp của thiếu niên 2 1 Quan hệ giao tiếp. .. chỉ làm cho học sinh hiểu nhầm giáo viên mà còn làm cho các em xa lánh người được lựa chọn-cán bộ lớp mà giáo viên đã chọn Bởi vì các em cho rằng bạn học sinh đó được cô giáo thiên vị, cho rằng bạn đó xu nịnh, thậm chí các em còn đặt dấu chấm hỏi trong quan hệ của giáo viên và học sinh ấy Do đó, giải pháp ở đây là giáo viên cần phải khách quan trong việc lựa chọn, khi lựa chọn nên dùng biện pháp trưng . triển quan hệ giao tiếp của thiếu niên. 2. Các quan hệ giao tiếp của thiếu niên 2. 1. Quan hệ giao tiếp của thiếu niên với người lớn-sự hình thành kiểu quan hệ mới 2. 2 Quan hệ giao tiếp của thiếu. Bài kết thúc học phần Môn Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm Đề tài Phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên Giảng viên ThS. Đỗ Dung Hòa Sinh. tiếp của thiếu niên với bạn cùng tuổi 3. Biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên tiểu kết 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tập bài giảng tâm lí học lứa tuổi và sư phạm- Khoa - Xem thêm -Xem thêm phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên, phân tích quan hệ giao tiếp và biện pháp giáo dục tình bạn tốt đẹp cho lứa tuổi thiếu niên, Tâm sinh lý tuổi thiếu niên được xác định trong khoảng từ 11 – 15 tuổi. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội. Dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách. Giai đoạn tuổi thiếu niên thường được gắn với những cách gọi như “tuổi bất trị”, “khủng hoảng tuổi thiếu niên”. Việc nắm được những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này là rất cần thiết. Để các bậc cha mẹ có cách đối xử tác động tới con phù hợp cùng A+ English tìm dung phát triển về mặt sinh thì sớm và các biện pháp can thiệp tâm sinh lý ở tuổi thiếu phát triển về mặt xã phát triển của các quá trình nhận sống tình cảm tâm sinh lý tuổi thiếu hướng muốn làm người lớnSự khủng hoảng trong lứa tuổi thiếu niênSự phát triển nhân cách tâm sinh lý tuổi thiếu niênSự phát triển của tự ý thứcSự hứng thúVệ sinh sinh lý tuổi thiếu phát triển về mặt sinh lýGiai đoạn này cơ thể đang diễn ra quá trình cải tổ hình thái sinh lý. Một cách mạnh mẽ và mang tính chất không cân chiều cao đây là thời kỳ nhảy vọt về tầm vóc, xương tay chân dài ra nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Điều này làm cho hoạt động của trẻ trở nên lóng ngóng vụng hệ cơ chứa nhiều nước, chưa phát triển hết. Nên các em chóng mệt và không có khả năng làm việc cao. Ở cuối giai đoạn này, lực cơ phát triển mạnh đặc biệt là ở các em hệ xương xương sống và xương tứ chi phát triển mạnh. Nhưng xương lồng ngực phát triển chậm. Vì thế làm cho các em có vẻ gầy còm, không cân hoạt động tim mạch sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối. Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn. Nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm. Do đó, có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, gây nhức đầu chóng mặt mệt mỏi khi làm thì sớm và các biện pháp can thiệp tâm sinh lý ở tuổi thiếu niênBiểu hiện bất thường về giới trước 10 tuổi đối với bé trai. Và trước 9 tuổi đối với bé gái. Điều đó thường gây ảnh hưởng tâm sinh lý tuổi thiếu niên nhiều. Những biểu hiện đó thường là + Trẻ gái có tuyến vú, có lông sinh dục và bắt đầu có thể có kinh nguyệt. + Trẻ trai cơ bắp phát triển, giọng nói trầm ồm, có ria mép, dương vật dài ra. Ngoài ra, có lông sinh dục và có thể xuất tinh đôi khi trẻ còn thủ dâmDậy thì sớm ảnh hưởng lớn đến tâm lý của trẻ tầm vóc bất thường khiến trẻ bị bạn bè trêu chọc. Dễ bị các đối tượng xấu lạm dụng tình dục…Khi trưởng thành thường có chiều cao thấp hơn các bạn cùng độ pháp can thiệp Muốn điều trị trước hết cần xác định trẻ dậy thì sớm theo thể nào. Trong hai thể chính Dậy thì sớm thể thực, dậy thì sớm giả để có hướng điều trị phù lời khuyên chung dành cho người lớn kiểm soát các nguồn thông tin trẻ tiếp nhận từ bên ngoài. Dạy cho trẻ kỹ năng tự phòng vệ để tránh bị lợi dụng tình dục… phát triển về mặt xã hộiĐịa vị các em trong gia đình đã thay đổi, được gia đình thừa nhận một thành viên tích cực. Được giao nhiệm vụ cụ thể, được tham gia bàn bạc một số công việc của gia nhà trường, hoạt động học tập có nhiều thay đổi tác động mạnh đến đời sống tâm lý của các em xã hội lứa tuổi này được thừa nhận như một thành viên tích cực. Tham gia hoạt động công tác xã hội. Vì thế mối quan hệ của các em được mở rộng, tầm hiểu biết. Kinh nghiệm sống, nhân cách của các em được phát triển phong phú phát triển của các quá trình nhận thức– Tri gác khối lượng tri giác tăng lên, có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn. Có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật và hiện tượng.– Trí nhớ trí nhớ dần dần mang tính chất có điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức.– Tư duy đặc điểm nổi bật của hoạt động tư duy là sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng sang tư duy trừu tượng. Khái quát mà sự chiếm ưu thế của tư duy trừu tượng là đặc điểm cơ bản. Về hoạt động tư duy ở lứa tuổi phê phán của tư duy cũng được phát sống tình cảm tâm sinh lý tuổi thiếu niênTình cảm của các em sâu sắc, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn ở giai đoạn trước. Tuy nhiên, rất dễ xúc động, mang tính bồng bột, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hóa nhanh chóng. Trong mối quan hệ với bạn bè xuất hiện tình cảm khác giới. Có nguyện vọng được bạn khác giới quan tâm, yêu cảm bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh. Tình cảm bạn bè, tình tập thể, tình đồng chí cũng được phát triển. Xuất phát từ việc coi trọng tình bạn, muốn giao tiếp với bạn cùng tuổi mà ở các em. Có nguyện vọng được khẳng định vị trí của mình trong tập thể. Các em có khát vọng mạnh mẽ đó là muốn chiếm vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn bè. Nguyện vọng này thể hiện nhu cầu tự khẳng định. Và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý và nhân cách của thiếu niên. Các em có cảm xúc nặng nề nếu quan hệ với bạn bị tổn thương, mất bạn, sự tẩy chay của bạn hướng muốn làm người lớnKhuynh hướng muốn làm người lớn thể hiện về nội dung và hình thức như trong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, có quan điểm và lập luận riêng. Trong phạm vi ý thức xã hội, các em đòi hỏi mong muốn người lớn quan hệ, đối xử với mình bình đẳng như đối xử với người lớn. Tuy nhiên sự không thay đổi và cách ứng xử giữa người lớn với các em gây ra không ít những xung đột ở lứa tuổi ý thức rõ rệt về giới tính, quan tâm đến đời sống tình cảm của người lớn vì thế lứa tuổi này thường có tâm lý phóng đại các năng lực của mình, thường đánh giá cao hơn hiện thực, thể hiện dưới dạng bướng bỉnh, tỏ ra bất cần trước những việc làm hàng ngày cũng như những thất bại mà các em trải khủng hoảng trong lứa tuổi thiếu niênNguyên nhân bên ngoài vị trí xã hội của thiếu niên có sự thay đổi, các em có vị trí trung gian không ổn định giữa người lớn và trẻ em, cùng với việc các em được giao nhiệm vụ nhiều hơn, được người lớn đòi hỏi sự cư xử nghiêm chỉnh nhân bên trong thiếu niên ý thức được sự phát triển của cơ thể theo hướng người lớn, cùng với việc xuất hiện sự rung cảm mới của các phát triển nhân cách tâm sinh lý tuổi thiếu niênCác em thường cố gắng bắt chước những mẫu người lý tưởng mà các em tự lựa chọn làm thần tượng của mình. Sự phấn đấu vươn lên theo hình mẫu lý tưởng đó giúp thiếu niên hình thành những phẩm chất ý chí như sức mạnh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó khăn để đạt mục đích. Tuy nhiên sự ngưỡng mộ, sùng bái các giá trị này không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng phù hợp với những giá trị đạo đức xã hội tích phát triển của tự ý thứcSự hình thành tự ý thức ở các em là quá trình diễn ra dần dần. Cơ sở đầu tiên của sự tự ý thức là sự tự đánh giá của người khác, nhất là người lớn. Dần dần trẻ em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá nhân cách của mình hứng thúHứng thú của thiếu niên phát triển khá mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, thể hiện ở sự quan tâm đến kết quả hoạt động, đến bản chất, ý nghĩa của hoạt động, thể hiện ở thái độ tích cực với hiện tượng khách nhiên hứng thú các em còn nhiều hạn chế tâm sinh lý tuổi thiếu niên cụ thể như– Do muốn thỏa mãn nhiều lĩnh vực nên hứng thú còn tản mạn, chưa ổn định, dễ thay đổi.– Hứng thú chủ yếu thiên về hoạt động thực tiễn có tính chất kỹ thuật đơn giản.– Hứng thú còn mang tính chất bay bổng thiếu thực sinh sinh lý tuổi thiếu niênỞ lứa tuổi này nhân cách của các em được phát triển một cách mạnh mẽ, tự ý thức đã bắt đầu hình thành các quan niệm về cuộc sống rõ ràng hơn và các quan hệ xã hội bước đầu được mở rộng. Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là học tập. Các biện pháp vệ sinh tâm lý được đan xen với hoạt động học tập cho trẻ. Cần tránh tạo gánh nặng trí tuệ và tránh thúc ép các em học quá sức, cả về văn hóa, thể thao, âm nhạc, hội họa…Ở cuối lứa tuổi này, trẻ dễ có những khủng hoảng tâm lý đi kèm với những biến đổi mạnh mẽ về sinh lý. Đối với trẻ em gái, nếu không được chuẩn bị chu đáo về tâm lý cho lần thấy kinh nguyệt đầu tiên các em dễ bị những mặc cảm nặng nề, ở trẻ em trai sự phát triển tâm lý giới tính cũng chuyển sang thời kỳ mới. Nếu các em bị những tác động xấu của video , phim ảnh đồi trụy… thì rất dễ có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo Anh Ngữ A+ English xây dựng các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi này. Gắn liền với công tác giáo dục của nhà trường, sự quan tâm của gia đình và xã hội.

biện pháp giáo dục lứa tuổi thiếu niên