Phụ gia ức chế tạo bọt. Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh
NHÀ NHẬP KHẨU VÀ PHÂN PHỐI DẦU NHỚT HUỲNH CHÂU. Website: daunhothuynhchau.com. Email: daunhothuynhchau@gmail.com. Hotline: 090 831 5193 – 090 214 0906 – 0283 974 8423 – 0283 860 3655. Địa chỉ: 32 Ni Sư Huỳnh Liên, P.10, Q.Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Thứ tự mặc định.
Dầu nhớt động cơ gồm 2 thành phần chính là dầu gốc và phụ gia. Dầu gốc mang nhiều tính chất của dầu thành phẩm nhưng chưa hoàn thiện, vì vậy để đạt hiệu quả sử dụng tốt nhất việc bổ sung phụ gia là cần thiết. Cùng Lê Trí Oil tìm hiểu chi tiết hơn và phụ gia được sử dụng trong dầu nhớt nhé!
Dựa vào chức năng cần thiết, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu qua 6 loại phụ gia thường thấy trong dầu nhờn cao cấp hiện nay: 1. Phụ gia chống ô-xy hóa. Phụ gia chống ô-xy hóa thường bao gồm các hợp chất có chứa nhóm phenol hoặc nhóm amin, kẽm dialkyl dithiophosphates (ZnDDP) hay
COMBO 1L DẦU NHỚT TAY GA CASTROL POWER SCOOTER 10W40 1000ML (1 LÍT) - PHỄU THAY NHỚT không những tốt, chất lượng mà giá cả cũng rẻ và rất cạnh tranh với các nhãn hàng phổ biến tương tự trên thị trường
Khớp với kết quả tìm kiếm: Dầu thủy lực PLC AW HYDROIL 32 được pha chế từ dầu gốc có chỉ số độ nhớt cao và các phụ gia chống oxy hóa, chống mài mòn, ăn mòn và chống tạo bọt, giúp bảo vệ …
CÁC CHẤT PHỤ GIA CÓ TRONG DẦU NHỚT. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số
z9QMEi. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn. Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Mua nước làm mát tại đà nẵng - Minh Hưng Lợi là lựa chọn hoàn hảo trong từng sản phẩm của bạn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia Dễ hòa tan trong dầu. Không hoặc ít hòa tan trong nước. Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. Không bị phân hủy bởi nước và kim loại. Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn. Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn. Hoạt tính có thể kiểm tra được. Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm. Phụ gia được pha trộn vào dầu gốc Phụ gia tăng chỉ số nhớt Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi tăng chỉ số độ nhớt cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm dạng hydrocacbon và dạng este. Dạng hydrocacbon có các loại copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren. Dạng ester gồm polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic. Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen có thể lên đến 10% và polyizobutylen hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%. Phụ gia chống oxy hóa Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu tăng độ bền ôxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat ZnDDP, các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %. Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt độ tương đối cao 200-300°C, ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm…. Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn. Phụ gia ức chế gỉ Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit FeOH2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%. Phụ gia ức chế tạo bọt Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ. Phụ gia phân tán Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm Ankenyl-poly-amin-suxinimit. Ankyl-hydrobenzyl-polyamin. Este-polyhydroxy-suxinic. Poly-aminamit-imidazolin. Polyamine suxinimit. Ester-photpholat. Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt chất tăng chỉ số độ nhớt nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán. Phụ gia ức chế ăn mòn Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm di-thiophotphat kim loại đặc biệt là kẽm; sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin… Phụ gia chống mài mòn Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại mài mòn dính. Sự có mặt của các hạt mài mài mòn hạt gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%. Phụ gia hỗ trợ ma sát của bộ li hợp Đây là phụ gia chuyên dùng trong dầu nhớt dành riêng cho xe motor, xe máy sử dụng bộ li hợp ướt. Cấu tạo bộ li hợp ướt có các chi tiết bề mặt nhám hầu hết làm từ giấy pha kim loại để khi chất lỏng lọt vào đủ để làm chất xúc tác kết dính cơ học giữa các đĩa chịu lực ma sát khi tiếp xúc với đĩa truyền động, chịu lực ma sát nghỉ và dễ sinh ra ma sát trượt. Phụ gia cải thiện ma sát được thêm vào dầu nhờn, và nó chỉ tạo kết dính đối với chất liệu trên, không gây ma sát cho kim loại. Nồng độ phụ gia này phải tính toán kĩ lưỡng để vừa đủ tạo kết dính trong suốt quá trình vận hành mà không gây ảnh hưởng đến thành phần các phụ gia khác. Phụ gia tẩy rửa Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. Phụ gia biến tính, giảm ma sát Phụ gia biến tính, giảm ma sát FM có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao. Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất. Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %. Phụ gia hạ điểm đông đặc Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng không quá 1%. Pha chế dầu động cơ Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại. Dầu thủy lực tại đà nẵng - Nhà phân phối Minh Hưng Lợi là lựa chọn hoàn hảo trong từng sản phẩm của bạn. Nhanh tay gọi đến hotline để được tư vấn miễn phí ! Nguồn Tổng hợp
Phụ gia nhớt xe máy Cùng xem bài viết của OKXE Việt Nam để tìm câu trả lời cho thắc mắc phụ gia nhớt xe máy loại nào tốt và ưu điểm của phụ gia dầu động cơ nhé. Bên cạnh phụ gia xăng, các loại phụ gia dầu nhớt cũng ngày càng phổ biến với người dùng xe máy Việt Nam. Được giới thiệu có công dụng tăng cường đặc tính của dầu bôi trơn động cơ, vậy phụ gia nhớt xe máy loại nào tốt và hiệu quả thực tế ra sao? Có nên dùng phụ gia nhớt xe máy không? Ảnh TNO. Trong bài viết này, OKXE Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phụ gia dầu nhớt. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm nhiều bài viết hữu ích khác ở chuyên mục Kinh nghiệm xe nhé. Xem thêm Có nên dùng phụ gia xăng xe máy không, giá phụ gia bao nhiêu? Xem thêm Bao lâu thay lốp xe máy? Thay lốp hết bao nhiêu tiền? Phụ gia nhớt xe máy là gì? Thành phần của phụ gia nhớt xe máy, hay phụ gia dầu bôi trơn, gồm các hợp chất hữu cơ, vô cơ hòa tan hoặc không hòa tan tồn tại ở thể rắn li ti. Tỷ lệ phụ gia pha trộn trong dầu nhớt dao động 0,1-30%, tùy thuộc vào loại máy và động cơ được bôi trơn. Ba công dụng chính của phụ gia nhớt xe máy bao gồm Tăng cường các đặc tính của dầu gốc bằng chất chống oxy hóa, chất ức chế ăn mòn, chất chống tạo bọt và chất khử nhũ tương. Loại bỏ các đặc tính không mong muốn của dầu gốc bằng chất làm giảm điểm đông đặc và chất cải thiện chỉ số độ nhớt. Bổ sung các đặc tính mới cho dầu gốc với hóa chất phụ, chất tẩy rửa, chất khử kích hoạt kim loại và chất chống dính. Phân loại phụ gia dầu nhớt Trên thị trường hiện có 2 kiểu phụ gia dầu nhớt chính được chào bán, phân chia theo công dụng vệ sinh động cơ xúc rửa động cơ và bảo vệ động cơ phục hồi động cơ. Hai loại phụ gia dầu nhớt xe máy phổ biến trên thị trường. Ảnh Tuannph. Trong đó, loại phụ gia vệ sinh động cơ được thêm vào nhớt bôi trơn khi cần thay nhớt mới. Mục đích nhằm khi loại bỏ nhớt cũ sẽ làm sạch tối đa các tạp chất, mảng bám hay gỉ sét không mong muốn xuất hiện trong chi tiết máy sau thời gian dài vận hành. Với loại phụ gia bảo vệ động cơ, các công dụng chính có thể kể đến hạn chế ăn mòn, chống gỉ sét và tăng độ nhớt của dầu bôi trơn nhằm giúp máy móc làm việc thêm trơn tru và bền bỉ. Nhìn chung, sử dụng phụ gia nhớt có thể góp phần giúp động cơ vận hành tốt hơn, cũng như tăng tuổi thọ cho các chi tiết cơ khí. Phụ gia nhớt xe máy loại nào tốt? Thực tế, các sản phẩm dầu nhớt bán tổng hợp hay tổng hợp toàn phần đã được nhà sản xuất pha trộn sẵn phụ gia nhằm kéo dài thời gian sử dụng cũng như nâng cao phẩm cấp nhớt. Đó là lý do dầu nhớt bán tổng hợp và tổng hợp toàn phần có giá thành cao hơn dầu gốc khoáng. Vì vậy, bạn cần xác định rõ mục đích sử dụng là vệ sinh hay bảo vệ động cơ để lựa chọn được loại phụ gia thích hợp, nhất là khi sử dụng dầu nhớt bán tổng hợp hay tổng hợp toàn phần. Hầu hết dầu nhớt đã được bổ sung phụ gia trong quá trình sản xuất để tăng phẩm cấp. Ảnh Tuannph. Trên thị trường hiện có một số thương hiệu dầu nhớt có bán kèm sản phẩm phụ gia động cơ như Castrol, Motul, Liqui Moly, Voltronic… Điều này giúp người dùng thuận tiện khi lựa bảo dưỡng xe máy khi sử dụng trọn bộ dầu bôi trơn và phụ gia đồng bộ từ một nhà sản xuất, Trong khi đó, để đảm bảo tác dụng của phụ gia dầu nhớt, bạn cần lưu ý lựa chọn nhãn hiệu uy tín và đảm bảo. Một vài gợi ý gồm có BlueChem, Wolver, Penrite… Tùy theo thương hiệu, chủng loại và dung tích đóng gói, mức giá của phụ gia nhớt xe máy có thể dao động từ đồng đến hơn đồng. Bạn có thể mua trực tiếp tại các cửa hàng chăm sóc xe hoặc mua trực tuyến qua các trang thương mại điện tử.
Khi nói đến cụm từ “phụ gia nhớt” chắc chắn các bạn sẽ thấy khá mới lạ nhưng nó lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với dầu nhớt. Vậy chất phụ gia nhớt để làm gì? Cùng Chuyện xe tìm hiểu trong bài viết sau đây nhé!Nội dung tóm tắt bài viết1 Tổng quan về chất phụ gia Chất phụ gia nhớt là gì? Chất phụ gia nhớt để làm gì?2 Các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động cơTổng quan về chất phụ gia nhớtChất phụ gia nhớt là gì?Chất phụ gia nhớt là những chất vô cơ, hữu cơ hay các nguyên tố được bổ sung vào dầu nhớt. Mặc dù chỉ chiếm hàm lượng có nhưng chất phụ gia lại khá quan trọng đối với các loại nhớt vì nó sẽ quyết định loại nhớt đó có chất lượng ra sao. Hầu hết, mỗi loại dầu nhớt sẽ có một loại phụ gia được thêm vào khác nhau. Tuy nhiên, đa phần các dầu nhớt thương phẩm đều được pha thẳng phụ gia vào. Bên cạnh đó, trên thị trường hiện nay còn xuất hiện loại phụ gia tổng hợp và được pha vào dầu chỉ khi nào cần thiết. Chất phụ gia nhớt là gì?Qua tìm hiểu, chất phụ gia nhớt chỉ đáp ứng được 1 chức năng được gọi đơn chức còn nếu đáp ứng được nhiều chức năng được gọi là đa chức. Các chất phụ gia có thể tương hỗ lẫn nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Trường hợp đầu thì không cần nói nhưng trường hợp sau thì sẽ khiến cho chất lượng dầu bị giảm do trong dầu sản sinh ra những chất phụ không tan hoặc có hại. Chính vì vậy, chất phụ gia nhớt sẽ có những yêu cầu nghiêm ngặt sau Do là chất phụ gia cho dầu nhớt nên chắc chắn chúng phải đảm bảo được yêu cầu đó là phải dễ hoà tan trong dầu. Ít hoặc không hoà tan trong dụng nhũ hoá của dầu không bị ảnh hưởngKhông khiến kim loại bị ăn mònKhông bị kim loại hay nước phân huỷ. Khi làm việc sẽ không bị bốc hơiCó thể kiểm tra được độ hoạt tínhÍt hoặc thậm chí là không phụ gia nhớt để làm gì?Chất phụ gia nhớt để làm gì?Như đã nói ở trên, chất phụ gia nhớt là những thành phần được thêm vào dầu nhớt để giúp dầu nhớt có chất lượng tốt hơn. Tuỳ từng mục đích mà chất phụ gia được thêm vào với mục đích sử dụng khác nhau như chống tạo cặn, chống rỉ sét, chống ăn mòn…Các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động cơTheo Chuyện xe tìm hiểu, các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động được phân theo chức năng. Cụ thể Phụ gia chống oxy hoáCác thành phần cấu tạo nên dầu nhớt đều khiến các chi tiết bị oxy hoá dù nhanh hay chậm. Quá trình này sẽ chịu nhiều yếu tố tác động như nồng độ, oxy, nhiệt độ… Ngoài ra, khi sử dụng, bên trong dầu nhớt luôn chứa những ion kim loại. Những ion này khiến quá trình oxy hoá diễn ra nhanh hơn. Chính vì vậy, phụ gia chống oxy hoá được thêm vào nhằm hạn chế quá trình gia cải thiện độ nhớtNhư đã nói ở trên, dầu nhớt có thể bị oxy hoá nên phụ gia giúp cải thiện độ nhớt là hoàn toàn cần thiết. Với chất phụ gia này, độ nhớt của dầu sẽ được tăng gia chống ăn mònBởi các tác nhân axit nên khi tiếp xúc với dầu nhớt, kim loại có thể bị ăn mòn. Vì vậy, nếu được thêm phụ gia chống ăn mòn, chất phụ gia này sẽ tạo một lớp màng mỏng giúp bảo vệ kim loại khỏi việc bị ăn mòn. Các loại chất phụ gia sử dụng trong dầu nhớtPhụ gia chống rỉ sétSau một thời gian sử dụng, bên trong dầu nhớt sẽ xuất hiện các tạp chất như cặn bẩn, nước… Những tạp chất này sẽ khiến các chi tiết bên trong của động cơ xuất hiện tình trạng rỉ sét. Khi phụ gia chống rỉ sét được thêm vào sẽ tạo ra một lớp màng mỏng để ngăn các tạp chất này tiếp xúc với các chi tiết. Phụ gia tẩy rửaDầu nhớt sẽ bị oxy hoá do sự hoạt động “cật lực” của động cơ. Những cặn mang tính axit được ra bởi sự oxy hoá đã khiến độ đậm đặc của dầu bị tăng lên, mất tính đồng nhất… Với việc thêm phụ gia tẩy rửa, các cặn bẩn này sẽ được hấp thu. Đồng thời, phụ gia tẩy rửa còn ngăn các cặn bẩn không thể liên kết được với nhau. Phụ gia phân tánPhụ gia phân tán sẽ có nhiệm vụ làm chậm hoặc ngăn ngừa quá trình tạo cặn, giảm sự liên kết của dầu mỗi khi ở nhiệt độ thấp. Từ đó, dầu nhớt sẽ có một loãng cần thiết để len lỏi khắp động cơ. Phụ gia chống tạo bọtMột vấn đề nan giải của dầu đó chính là sự tạo bọt. Hiện tượng này sẽ khiến dầu bị thất thoát khá nhiều. Đồng thời, việc tạo bọt này còn khiến sự oxy hoá bị tăng lên. Để khắc phục tình trạng này, phụ gia chống tạo bọt sẽ là một cách ứng cứu tuyệt hảo. Bởi chúng sẽ hấp thu những bọt được tạo ra. Được biết, phụ gia phân tán có thể tạo ra bọt nên nếu 2 chất phụ gia này thường đồng hành cùng nhau trong mỗi bình nhớt. Phụ gia chống đông đặcTheo như tìm hiểu, bên trong dầu gốc luôn chứa thành phần sáp. Mỗi khi ở nhiệt độ thấp, thành phần này sẽ tạo thành những tinh thể ngăn cản sự chảy của dầu nhớt. Phụ gia chống đông đặc sẽ có nhiệm vụ khiến quá trình kết tinh bị chậm lại. Phụ gia giảm ma sátKhi làm việc quá tải thì mảng lỏng dầu nhờn cũng sẽ bị quá tải theo. Chính điều này sẽ khiến các chi tiết kim loại bị mài mòn do quá trình ma sát. Phụ gia giảm ma sát sẽ giảm sự mài mòn và làm biến tính ma những thông tin trên, hy vọng các bạn đã hiểu rõ hơn việc chất phụ gia nhớt để làm gì và có lựa chọn đúng đắn cho mình.
Các chuyên gia bôi trơn thường rất quen thuộc với độ nhớt của dầu gốc trong chất bôi trơn của họ bởi độ nhớt là đặc tính quan trọng nhất của dầu gốc. Tuy nhiên, có nhiều thứ liên quan đến chất bôi trơn hơn là độ nhớt. Điều quan trọng là phải hiểu vai trò của các chất phụ gia và các chức năng của chúng trong chất bôi trơn. Để hiểu rõ hơn, Miennampetro sẽ phân tích vấn đề này thông qua bài viết dưới đây, hãy theo dõi nhé! I. Vai trò của phụ gia có trong dầu nhờn Phụ gia dầu nhờn là các hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ hòa tan hoặc lơ lửng dưới dạng chất rắn trong dầu. Chúng thường dao động từ 0,1 đến 30 phần trăm thể tích dầu, tùy thuộc vào máy móc. Phụ gia có ba vai trò cơ bản Tăng cường các đặc tính của dầu gốc hiện cóvới chất chống oxy hóa, chất ức chế ăn mòn, chất chống tạo bọt và chất khử nhũ tương. Ức chế các đặc tính không mong muốn của dầu gốcbằng chất làm giảm điểm đông đặc và chất cải thiện chỉ số độ nhớt VI. Truyền các đặc tính mới cho dầu gốc với các chất phụ gia chịu cực áp EP, chất tẩy rửa, chất khử hoạt tính kim loại và chất dính. II. Các loại phụ gia bôi trơn Có nhiều loại phụ gia hóa học được trộn vào dầu gốc để tăng cường các đặc tính của dầu gốc, để triệt tiêu một số đặc tính không mong muốn của dầu gốc và có thể tạo ra một số đặc tính mới. Các chất phụ gia thường chiếm khoảng 0,1 đến 30 phần trăm của dầu bôi trơn thành phẩm, tùy thuộc vào ứng dụng mục tiêu của chất bôi trơn. Phụ gia bôi trơn là hóa chất đắt tiền, và việc tạo ra hỗn hợp hoặc công thức phụ gia thích hợp là một ngành khoa học rất phức tạp. Đó là sự lựa chọn các chất phụ gia giúp phân biệt dầu tuabin R&O với dầu thủy lực, dầu bánh răng và dầu động cơ. Nhiều chất phụ gia bôi trơn có sẵn và chúng được lựa chọn để sử dụng dựa trên khả năng thực hiện chức năng dự kiến của chúng. Chúng cũng được chọn vì khả năng trộn dễ dàng với các loại dầu gốc đã chọn, tương thích với các phụ gia khác trong công thức và tiết kiệm chi phí. Một số chất phụ gia thực hiện chức năng của chúng trong bản thân của dầu ví dụ chất chống oxy hóa, trong khi những chất khác thực hiện công việc của chúng trên bề mặt kim loại ví dụ, chất phụ gia chống mài mòn và chất ức chế gỉ. Phụ gia bôi trơn thông thường Chúng bao gồm các loại phụ gia phổ biến như sau 1. Chất chống oxy hóa Quá trình oxy hóa là sự tấn công thường gặp vào các thành phần yếu nhất của dầu gốc bởi oxy trong không khí. Nó xảy ra ở mọi nhiệt độ mọi lúc nhưng được tăng tốc ở nhiệt độ cao hơn và bởi sự có mặt của nước, kim loại mài mòn và các chất tạp nhiễm khác. Cuối cùng, nó tạo ra axit gây ăn mòn và cặn bùn dẫn đến đóng cặn bề mặt và tăng độ nhớt. Chất ức chế ôxy hóa, như chúng còn được gọi tên, được sử dụng để kéo dài tuổi thọ hoạt động của dầu. Chúng là các chất phụ gia tiêu hao, được sử dụng trong khi thực hiện nhiệm vụ trì hoãn sự bắt đầu của quá trình oxy hóa, do đó bảo vệ dầu gốc. Chúng có mặt trong hầu hết các loại dầu và mỡ bôi trơn. 2. Chất ức chế ăn mòn và rỉ sét Các chất phụ gia này làm giảm hoặc loại bỏ rỉ sét và ăn mòn bên trong bằng cách trung hòa axit và tạo thành một hàng rào bảo vệ hóa học để đẩy hơi ẩm khỏi bề mặt kim loại. Một số chất ức chế này đặc biệt để bảo vệ một số kim loại nhất định. Do đó, một loại dầu có thể chứa một số chất ức chế ăn mòn. Cũng như trên, chúng được dùng phổ biến trong hầu hết mọi loại dầu và mỡ. Chất khử hoạt tính kim loại là một dạng khác của chất ức chế ăn mòn. 3. Chất cải thiện chỉ số độ nhớt Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt là các chất phụ gia polyme có kích thước phân tử rất lớn giúp ngăn chặn một phần sự loãng ra của dầu mất độ nhớt khi nhiệt độ tăng. Các chất phụ gia này được sử dụng nhiều khi pha trộn các loại dầu động cơ đa cấp như SAE 5W-30 hoặc SAE 15W-40. Chúng có chức năng giúp dầu lưu thông tốt hơn ở nhiệt độ thấp, dẫn đến giảm mài mòn và cải thiện khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Ngoài ra, chất cải thiện chỉ số độ nhớt còn được sử dụng để pha chế dầu thủy lực và dầu bánh răng có VI cao để cải thiện khả năng khởi động và bôi trơn ở nhiệt độ thấp. Để hình dung cách hoạt động của phụ gia cải thiện VI, hãy nghĩ về nó như một con bạch tuộc hoặc lò xo cuộn được cuộn lại trong một quả bóng ở nhiệt độ thấp nên rất ít ảnh hưởng đến độ nhớt của dầu. Khi nhiệt độ tăng, chất phụ gia con bạch tuộc nở ra bung các xúc tu ra làm cho nó lớn hơn và ngăn dầu loãng ra quá nhiều ở nhiệt độ cao. Chất cải thiện chỉ số độ nhớt có một vài đặc điểm tiêu cực. Các chất phụ gia là các polyme lớn trọng lượng phân tử cao làm cho chúng dễ bị cắt thành các mảnh nhỏ bởi các bộ phận máy móc. Các bánh răng nổi tiếng là khắc nghiệt đối với các chất phụ gia cải thiện VI. Sự cắt đứt vĩnh viễn của phụ gia cải thiện VI có thể gây ra tổn thất độ nhớt đáng kể có thể được phát hiện bằng phân tích dầu. Dạng mất độ nhớt thứ hai xảy ra do lực cắt lớn trong vùng tải của bề mặt ma sát ví dụ, trong ổ trục. Người ta cho rằng chất phụ gia cải thiện VI bị mất hình dạng hoặc tính định hướng đồng nhất và do đó mất một phần khả năng làm đặc của nó. Độ nhớt của dầu tạm thời giảm xuống trong vùng tải và sau đó trở lại độ nhớt bình thường sau khi ra khỏi vùng tải. Đặc tính này thực sự hỗ trợ trong việc giảm tiêu thụ nhiên liệu. Có một số loại chất cải thiện VI khác nhau chất đồng trùng hợp olefin là phổ biến. Chất cải thiện VI chất lượng cao ít bị mất lực cắt vĩnh viễn hơn so với chất cải thiện VI giá rẻ, chất lượng thấp. 4. Phụ gia chống mài mòn AW Các chất phụ gia này thường được sử dụng để bảo vệ các bộ phận của máy khỏi bị mài mòn và mất kim loại trong các điều kiện bôi trơn màng mỏng. Chúng là các chất phụ gia phân cực bám vào bề mặt kim loại ma sát. Chúng phản ứng hóa học với bề mặt kim loại khi tiếp xúc kim loại với kim loại xảy ra trong điều kiện bôi trơn hỗn hợp và màng mỏng. Chúng được kích hoạt bởi nhiệt tiếp xúc để tạo thành một lớp màng giảm thiểu mài mòn. Chúng cũng giúp bảo vệ dầu gốc khỏi quá trình oxy hóa và kim loại khỏi bị hư hại bởi axit ăn mòn. Các chất phụ gia này bị “tiêu hao hết” khi thực hiện chức năng của chúng, sau đó sự phá hủy do mài mòn dính sẽ tăng lên. Chúng thường là các hợp chất phốt pho, trong đó phổ biến nhất là kẽm dialkyldithiophosphate ZDDP. Có nhiều phiên bản khác nhau của ZDDP – một số dành cho các ứng dụng thủy lực và những phiên bản khác dành cho nhiệt độ cao hơn gặp phải trong dầu động cơ. ZDDP cũng có một số đặc tính chống oxy hóa và ức chế ăn mòn. Ngoài ra, các loại hóa chất gốc phốt pho khác được sử dụng để bảo vệ chống mài mòn ví dụ TCP, Tricresyl Phosphate. 5. Phụ gia cực áp EP Các chất phụ gia này mạnh hơn về mặt hóa học so với các chất phụ gia AW. Chúng phản ứng hóa học với các bề mặt kim loại sắt để tạo thành một lớp màng bề mặt hy sinh để ngăn cản sự hàn dính và kẹt dính do tiếp xúc kim loại với kim loại mài mòn dính giữa các mấu gồ ghề đối diện nhau. Chúng được kích hoạt ở tải cao và nhiệt độ tiếp xúc cao được tạo ra. Chúng thường được sử dụng trong dầu bánh răng và làm cho các loại dầu đó có mùi lưu huỳnh mạnh, độc đáo. Các chất phụ gia này thường chứa các hợp chất lưu huỳnh và phốt pho và đôi khi là các hợp chất bo. Chúng có thể ăn mòn kim loại màu vàng, đặc biệt là ở nhiệt độ cao hơn và do đó không được sử dụng trong hệ bánh vít-trục vít và các ứng dụng tương tự khi sử dụng kim loại gốc đồng. Cũng có một số phụ gia EP gốc clo nhưng hiếm khi được sử dụng do lo ngại về ăn mòn. Các phụ gia chống mài mòn và cực áp tạo thành một nhóm lớn phụ gia hóa học thực hiện chức năng bảo vệ bề mặt kim loại trong quá trình bôi trơn màng mỏng bằng cách tạo thành một lớp màng bảo vệ hoặc lớp chắn trên bề mặt mài mòn. Miễn là màng dầu thủy động hoặc thủy động đàn hồi được duy trì giữa các bề mặt kim loại, quá trình bôi trơn màng mỏng sẽ không xảy ra và các phụ gia bôi trơn màng mỏng này sẽ không cần thiết để thực hiện chức năng của chúng. Khi màng dầu bị phá vỡ và tiếp xúc giữa các chỗ lồi xảy ra dưới tải trọng cao hoặc nhiệt độ cao, các chất phụ gia bôi trơn màng mỏng này sẽ bảo vệ các bề mặt bị mài mòn. 6. Chất tẩy rửa Chất tẩy rửa thực hiện hai chức năng. Chúng giúp giữ cho các thành phần kim loại nóng không bị đóng cặn sạch và trung hòa axit hình thành trong dầu. Chất tẩy rửa chủ yếu được sử dụng trong dầu động cơ và có tính chất kiềm. Chúng tạo thành cơ sở cho độ kiềm dự trữ của dầu động cơ, được gọi là độ kiềm BN. Chúng thường là các chất liệu gốc canxi và magiê. Trước đây, chất tẩy rửa làm từ bari đã được sử dụng nhưng hiện nay hiếm khi được dùng. Vì các hợp chất kim loại này để lại cặn tro khi dầu bị đốt cháy, chúng có thể tạo ra cặn không mong muốn trong các ứng dụng ở nhiệt độ cao. Do mối quan tâm về tro này, nhiều OEM đang chỉ định các loại dầu có độ tro thấp cho các thiết bị hoạt động ở nhiệt độ cao. Phụ gia tẩy rửa thường được sử dụng cùng với phụ gia phân tán. Chất phân tán Chất phân tán chủ yếu có trong dầu động cơ với chất tẩy rửa giúp động cơ sạch sẽ và không bị đóng cặn. Chức năng chính của chất phân tán là giữ cho các hạt muội than của động cơ diesel phân tán mịn hoặc lơ lửng trong dầu kích thước nhỏ hơn 1 micron. Mục đích là để giữ cho chất bẩn lơ lửng và không cho phép nó kết tụ trong dầu để giảm thiểu thiệt hại và có thể được đưa ra khỏi động cơ trong quá trình thay dầu. Các chất phân tán thường là chất hữu cơ và không tro. Do đó, chúng không thể dễ dàng phát hiện được bằng phân tích dầu thông thường. Sự kết hợp của các chất phụ gia tẩy rửa/phân tán giúp cho nhiều hợp chất axit được trung hòa và nhiều hạt ô nhiễm hơn ở trạng thái lơ lửng. Vì các chất phụ gia này thực hiện chức năng trung hòa axit và phân tán các chất tạp nhiễm, cuối cùng sẽ vượt quá khả năng của chúng và sẽ cần phải thay dầu. 7. Chất chống tạo bọt Các hóa chất trong nhóm phụ gia này có sức căng bề mặt thấp, làm suy yếu thành bọt dầu làm cho bọt dễ vỡ hơn. Chúng có tác động gián tiếp đến quá trình oxy hóa bằng cách giảm lượng tiếp xúc giữa không khí và dầu. Một số chất phụ gia này là vật liệu silicone không hòa tan trong dầu mà phân tán mịn trong dầu bôi trơn và thường được yêu cầu với nồng độ rất thấp. Nếu thêm quá nhiều phụ gia chống tạo bọt, nó có thể có tác dụng ngược và thúc đẩy quá trình tạo bọt và kéo theo không khí. 8. Chất phụ gia điều chỉnh ma sát Các chất điều chỉnh ma sát thường được sử dụng trong dầu động cơ và dầu hộp số tự động để thay đổi ma sát giữa các bộ phần của động cơ và bộ truyền động. Đối với động cơ, trọng tâm là giảm ma sát để cải thiện khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Đối với hộp số, trọng tâm là tăng cường độ bám của các vật liệu ly hợp. Chất điều chỉnh ma sát có thể được coi là chất phụ gia chống mài mòn cho tải trọng thấp hơn mà không bị kích hoạt bởi nhiệt độ tiếp xúc. 9. Chất làm giảm nhiệt độ rót chảy Điểm rót chảy của một loại dầu là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó dầu sẽ vẫn ở thể lỏng. Các tinh thể sáp hình thành trong dầu khoáng parafinic sẽ kết tinh trở nên rắn ở nhiệt độ thấp. Các tinh thể rắn tạo thành một mạng lưới ngăn chặn sự chảy của phần dầu lỏng còn lại. Các chất phụ gia trong nhóm này làm giảm kích thước của các tinh thể sáp trong dầu và sự tương tác của chúng với nhau, cho phép dầu tiếp tục chảy ở nhiệt độ thấp. 10. Chất phụ gia khử nhũ tương Các chất phụ gia khử nhũ tương ngăn chặn sự hình thành hỗn hợp bền của dầu-nước hoặc nhũ tương bằng cách thay đổi sức căng bề mặt của dầu để nước sẽ kết tụ lại và dễ dàng tách ra khỏi dầu. Đây là một đặc tính quan trọng đối với chất bôi trơn tiếp xúc với hơi nước hoặc nước để nước tự do có thể lắng xuống và dễ dàng được xả ra khỏi bể chứa. 11. Chất nhũ hóa Chất nhũ hóa được sử dụng trong chất lỏng gia công kim loại gốc nước và dầu thủy lực chống cháy để giúp tạo ra nhũ tương bền của dầu-nước. Phụ gia nhũ hóa có thể được coi như một chất keo liên kết dầu và nước với nhau, bởi vì thông thường chúng muốn tách ra khỏi nhau do lực căng bề mặt và sự khác biệt về trọng lượng riêng. 12. Chất diệt khuẩn và chất bám dính – Chất diệt khuẩn thường được thêm vào chất bôi trơn gốc nước để kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn. – Chất bám dính là vật liệu quánh được sử dụng trong một số loại dầu và mỡ bôi trơn để ngăn chất bôi trơn văng ra khỏi bề mặt kim loại trong chuyển động quay. Một vài điểm chính về chất phụ gia Để được nhà sản xuất và người dùng chấp nhận, các chất phụ gia phải có thể được xử lý trong các thiết bị pha trộn thông thường, ổn định trong bảo quản, không có mùi khó chịu và không độc hại theo tiêu chuẩn công nghiệp thông thường. Vì nhiều loại là vật liệu có độ nhớt cao, chúng thường được bán cho các nhà sản xuất dầu dưới dạng dung dịch cô đặc trong một chất mang là dầu gốc. Nhiều chất phụ gia hơn không phải lúc nào cũng tốt nói cũ, “ Nếu ít thì tốt, thì nhiều càng tốt hơn” không nhất thiết đúng khi sử dụng phụ gia dầu bôi trơn. Khi nhiều chất phụ gia được pha trộn vào dầu, đôi khi không có thêm bất kỳ lợi ích nào thu được mà nhiều khi hiệu suất lại thực sự giảm sút. Trong các trường hợp khác, hiệu suất của chất phụ gia không cải thiện, nhưng thời gian sử dụng được cải thiện. Việc tăng tỷ lệ của một chất phụ gia nào đó có thể cải thiện một tính chất của dầu trong khi đồng thời lại làm giảm một tính chất khác. Khi nồng độ quy định của các chất phụ gia trở nên không cân bằng, chất lượng tổng thể của dầu có thể bị ảnh hưởng. Một số chất phụ gia cạnh tranh với nhau để chiếm chỗ trên bề mặt kim loại. Nếu nồng độ cao của chất chống mài mòn được thêm vào dầu, chất ức chế ăn mòn có thể trở nên kém hiệu quả hơn. Kết quả có thể là sự gia tăng các vấn đề liên quan đến ăn mòn. Lời kết Như vậy, hi vọng với những chia sẻ của Miennampetro sẽ giúp ích cho các bạn đọc hiểu hơn về những phụ gia cần có trong dầu nhớt bôi trơn và công dụng của chúng. Nếu quý khách hàng có nhu cầu sử dụng hoặc cần tìm hiểu về các loại dầu nhớt bôi trơn có thành phần phụ gia phù hợp với ứng dụng, mời liên hệ theo hotline dưới đây để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất CÔNG TY CP DẦU NHỚT VÀ HÓA CHẤT MIỀN NAM MIENNAMPETRO Hotline/Zalo/Viber Điện thoại 028 2253 1533 – Fax 028 3752 6823 Email info Website Facebook
Dầu nhớt động cơ bao gồm hai thành phần chính – dầu gốc và các chất phụ gia. Các loại dầu gốc chiếm 70-85% trong khi phụ gia chiếm khoảng 15 đến 25%. Những chất phụ gia, được gọi chung là gói phụ gia, gồm có các chất phân tán, chất tẩy rửa, phụ gia chống mài mòn, chống ma sát, chất chống oxy hóa, các chất phụ gia chống tạo bọt và chất chống ăn mòn. Ngoài ra, phụ gia dầu động cơ còn bao gồm chất tăng chỉ số độ nhớt và điểm đông đặc. Chất phân tán Chất phân tán giúp phân tán bùn hình thành bên trong bộ phận động cơ bằng cách hòa tan vào dầu nhớt và được thải ra ngoài cùng với dầu khi thay dầu mới. Chất tẩy rửa Chất tẩy rửa hoạt động trên bề mặt có nhiệt độ cao, chẳng hạn như khu vực vòng piston, giúp ngăn chặn đóng cặn. Các chất tẩy rửa này được tiêu thụ trong suốt vòng đời của dầu. Chất chống mài mòn Chất chống mài mòn tạo thành một lớp bảo vệ trên bề mặt kim loại. Chúng làm gia tăng chất chống Oxy hóa. Chất chống mài mòn hoạt động trong nhiệt độ cao và điều kiện tải trọng cao, đặc biệt là bảo vệ Cam, vòng piston và các bề mặt xi lanh. Chất chống mài mòn tạo ra một lớp màng bảo vệ, được tiêu hủy trong quá trình bảo vệ. Nếu ko có lớp màng này thì sự cọ sát giữa hai lớp kim loại sẽ xảy ra. Giống như chất tẩy rửa, chất chống mài mòn cũng được tiêu hủy trong suốt thời gian của sự thay đổi dầu. Đó cũng là một lý do mà bạn nên luôn luôn thay dầu của bạn trong khoảng thời gian đề nghị. Giảm ma sát Như những gì bạn nghĩ; chúng làm giảm ma sát khi tải trọng cao và nhiệt độ cao, giúp duy trì và tiết kiệm nhiên liệu một cách hiệu quả. Hiệu quả này cũng giảm theo thời gian cũng như độ tuổi của dầu. Chất chống oxy hóa Oxy hóa là kết quả của việc để Oxy tiếp xúc với dầu tại nhiệt độ cao. Điều này thì không tốt. Việc tiếp xúc như vậy có thể ảnh hưởng tới dầu, góp phần làm dày lớp bùn và mảng bám. Chất chống oxy hóa giúp quá trình oxy hóa chậm trong dầu để giúp giữ tính năng của dầu tốt hơn. Chất chống tạo bọt Bong bóng khí tạo ra một loạt các vấn đề trong dầu. Chúng làm cho việc di chuyển dầu đến các bộ phận quan trọng của động cơ khó khăn hơn, làm giảm hiệu quả bôi trơn của dầu, và ức chế khả năng làm mát cho động cơ của dầu. Những tác động này có thể dẫn đến việc làm hư động cơ một cách nghiêm trọng. Chất chống tạo bọt giúp ngăn ngừa những vấn đề này, đặc biệt tại nhiệt độ cao. Chất chống rỉ và ăn mòn Nghe có vẻ lạ, nhưng các bộ phận trong động cơ có thể bị rỉ sét và ăn mòn. Chất chống rỉ và ăn mòn giúp bảo vệ lớp bề mặt kim loại khỏi các mối nguy hiểm. Chất làm tăng Chỉ số độ nhớt Chỉ số độ nhớt cho biết khả năng chống lại sự thay đổi độ nhớt cũng khi nhiệt độ thay đổi. Chất tăng cường chỉ số độ nhớt sử dụng phụ gia polymer để giúp duy trì độ nhớt dầu trên một phạm vi nhiệt độ rộng. Việc sử dụng các chất tăng chỉ số độ nhớt cho phép điều chế các loại dầu động cơ đa cấp, chẳng hạn như 10W-30 và SAE 10W-30. Chất làm tăng nhiệt độ đông đặc Chúng được sử dụng trong các loại dầu đa cấp để giúp dầu hoạt động tốt hơn tại nhiệt độ thấp. Tại nhiệt độ thấp dầu rất khó lưu thông đến tất cả các bộ phận của động cơ. Điều này làm động cơ hoạt động kém hiệu quả. Nhantran MKT Xin chào tất cả các bạn, cảm ơn các bạn đã theo dõi các bài viết về các sản phẩm dầu nhớt của GBOIL. Chúng tôi luôn mong muốn mang đến cho khách hàng những sản phẩm chính hãng đạt tiêu chuẩn chất lượng đến từ hãng nhớt GBOIL. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua số hotline 0935583878 để được tư vấn chi tiết về sản phẩm nhé
các loại phụ gia dầu nhớt